CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 1

LỜI TỰA CỦA NGÀI VIÊN ANH
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Quần sanh ai cũng có tâm nhưng chân tâm khó ngộ. Người tu ai cũng có định nhưng tánh định khó thông. Chỉ bày chân tâm, tỏ thông tánh định, duy chỉ có kinh Thủ-lăng-nghiêm mà thôi!
Thế nào là chân tâm? Chính là căn tánh không sanh diệt mà chúng sanh sẵn có, tên gọi Như Lai Tạng, ai nấy đều tròn đầy.
Thế nào là tánh định? Chính là thể định bất động dao của tự tánh thiên chân, tên gọi Thủ-lăng-nghiêm, người người đều sẵn đủ.
Chỉ vì chúng sanh mê chân khởi vọng, nhận thức làm tâm, nên tuy chân tâm sẵn có mà chẳng thể giải ngộ, tánh định tự nhiên mà chẳng biết chỗ vào. Vì thế Như Lai từ đầu bảo A-nan rằng: “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp, đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh, mà chỉ dùng vọng tưởng. Vọng tưởng không thật, vì thế luân chuyển.”
Vậy nên biết, thức tâm là giặc thù của đại định, Bồ-đề chẳng phải từ tâm đó mà thành tựu. Căn tánh mới thật là nhân của viên thông, còn Lăng-nghiêm mới là cái định sẵn đủ nơi tự tánh.
Nên khi A-nan thỉnh dạy đại định để thành Phật, Như Lai liền vì đó mà phá thức hiển căn; phá năm thứ công năng thắng thiện của thức tâm, do thuộc vọng tưởng sanh tử, khiến người quyết định bỏ; hiển căn tánh là thể tâm nhất tinh nguyên minh, cửa nhiệm mầu của Niết-bàn, khiến người quyết định dùng. Thế thì đã rõ, yếu chỉ để tu Lăng-nghiêm chính là muốn khiến người xả thức dùng căn vậy!
Nên biết ái dục là chướng ngại của thiền định, vì thế lấy việc “đa văn đọa lạc” làm duyên phát khởi đại giáo; thức tâm là cỗi gốc của sanh tử, vì thế lấy việc “thấy tướng phát tâm” mà gạn hỏi, dò thấu nguồn bệnh. Từ đó ba phen phá thức, phá sạch cái vọng; mười lần hiển kiến, hiển cực cái chân. Hướng nơi sáu căn mà chỉ tánh thấy, khiến người đích thân nghiệm lấy cái bản chân bất động. Tụ hội bốn khoa mà bày Tạng tâm, khiến người tự sáng tỏ cái tự thể thường trụ. Lại còn dung thông bảy đại, viên mãn thập phương. A-nan biết cái “tâm tinh” viên mãn ở khắp, khen đại định là hy hữu, thế chẳng phải là ngộ chân tâm – thông tánh định đó sao!
Vọng tưởng điên đảo tuy đã tiêu, nhưng cái hoặc vi tế chưa hết. Phải đến khi Mãn Từ xét tìm nguyên nhân của “ba thứ sanh tục”, Như Lai đáp lỗi do một niệm giác minh, cho đến năm đại viên dung, ba Tạng hiển đủ, lìa hết thảy tướng, tức hết thảy pháp, lìa “tức” lìa “phi”, là “tức” cùng chẳng phải “tức”; thì mới thấu suốt cái thể định là nguồn đáy của các pháp, vốn tự tròn đầy; cái Lăng-nghiêm rốt ráo bền chắc, không do tạo tác. Chỗ gọi là Sa-ma-tha vi mật quán chiếu, phát minh tận cùng không sót!
Ngoái lại nhìn thứ định do gắng sức cưỡng chế thức tâm, khác nào một trời một vực!
Nay nghe giáo pháp phá thức hiển căn, ban đầu chân – vọng phải quyết trạch phân minh, cho đến dung thông khắp mười pháp giới Thánh phàm, nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng, biết “định thể” không khuyết giảm, tự nhiên vốn diệu, gần thì sẵn đủ trong căn, xa thì bao trọn muôn pháp.
Chỉ là “căn kết” chưa mở thì đại dụng chưa phát, nên đương cơ ví như được Thiên vương ban cho nhà đẹp, nhưng cốt yếu phải biết cửa vào. Đây chính là: Sau khi được đại khai viên giải, lại tiếp tục thỉnh cầu viên tu. Mong Phật chẳng bỏ đại bi, khiến chúng con nhận được con đường phát tâm khởi tu vào Niết-bàn vô dư của Như Lai.
Phật dạy: “Các ông đã quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp Diệu Tam-ma-đề của chư Phật Như Lai không sanh mỏi nhọc, thì trước hết phải rõ hai nghĩa quyết định khi mới phát tâm.” Một là quyết định lấy nhân đồng quả, xoay vọng về giác, khiến cho năm trược lắng trong. Hai là quyết định từ căn giải kết, bỏ cái kém lấy cái hơn, chỉ hướng một cửa mà thâm nhập.
Do đương cơ chưa rõ căn tánh chân thường, bèn đánh chuông để nghiệm nó không diệt. Lại riêng tìm nút kết ở đâu, chư Phật hiện ra khác miệng đồng lời rằng chẳng ở đâu khác. Buộc khăn chỉ nút, sáu cởi gỡ – một không còn, ngầm truyền – tuyển căn, nhĩ môn độc diệu, vào sâu tánh Như Lai Tạng, phát khởi đầy đủ đại dụng viên thông. Chỗ gọi là Tam-ma-đề như huyễn, búng ngón tay vượt hàng vô học!
Cho đến bốn lớp luật nghi – thanh tịnh minh hối, thiết lập đạo tràng, năm hội thần chú, đều là gia hạnh cho viên thông, đâu phải pháp môn nào khác!
Thanh tịnh minh hối: Bốn lời dạy minh bạch khiến việc tu học được thanh tịnh.
Cửa tu đã mở thì các địa vị sẽ trải qua cũng nên làm rõ. Trước tiên chỉ dạy “nhiễm duyên khởi” mà thành mười hai loài chúng sanh. Kế đó giảng rộng “tịnh duyên khởi” mà từng bước tiến, trải qua sáu mươi ngôi Thánh:
- Thu Ba tiệm làm Can tuệ
- Khai Sơ trụ thành Mười tín
- Mười trụ: Sanh vào nhà Phật mà làm Phật tử
- Mười hạnh: Rộng tu Lục độ mà làm Phật sự
- Mười hồi hướng: Hồi hướng Phật sự về Phật tâm
- Bốn gia hạnh: Dứt bặt hai bên tâm – Phật mà diệt số lượng
- Mười địa: Nương trung đạo mà tiến về Phật quả
- Đẳng giác: Ngang bờ mé với Phật mà phá vô minh sanh tướng
- Rốt ráo đến Diệu giác, thành đạo vô thượng, viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc (trở về nơi không chỗ đắc)
Chỗ gọi là Thiền-na tu chứng Thánh vị, chỉ cốt làm rõ việc quay về bản thể, lấy ra của báu có sẵn trong nhà, chẳng phải từ ngoài mà được.
A-nan thỉnh định, liệt kê ba tên, nhân vì không biết Phật định có tên chung, bèn dùng tên của ba thứ định riêng rẽ mình thường nghe, thêm một chữ “diệu” để hỏi: “Diệu Sa-ma-tha, Diệu Tam-ma, Diệu Thiền-na, phương tiện bắt đầu tu hành.”
Như Lai vừa nghe liền biết A-nan chưa rõ tổng danh của Phật định, nên trước tiên đáp rằng: “Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu xuất trên con đường diệu trang nghiêm. Nay ông hãy lắng nghe.”
Đoạn này chen ngang trong phần Phá tâm ở trong thân, nghĩa văn trước sau hoàn toàn không nối tiếp. Nay xin thẩm định, đoạn này phải ở ngay sau phần “thỉnh định – đại chúng nguyện nghe”—trước tiên nêu tổng danh của Phật định, khiến biết “nhân tu – quả khắc” của chư Phật, sau đó mới lần lượt đáp ba tên.
Quả khắc: Ý tương tự như quả chứng. Chỉ là chữ “khắc” có nghĩa khắc phục, trở về tình trạng ban đầu. Nên “quả khắc” hàm ý chỗ chứng không phải điều gì mới, chỉ là lấy lại thứ đã mất mà thôi.
Văn kinh ba quyển rưỡi đầu nói về con đường Sa-ma-tha, khiến ngộ mật nhân, đại khai viên giải. Ở quyển đầu, sau khi bảy chỗ tìm tâm đều bị phá, văn có câu: “Cầu xin Thế Tôn đại bi thương xót, khai thị cho chúng con đường tu Sa-ma-tha…”
Ba quyển tiếp theo nói về Tam-ma – pháp tu, khiến hướng nhĩ căn, chuyên một cửa mà thâm nhập. Ở quyển bốn, sau ẩn dụ “nhà đẹp – tìm cửa”, văn rằng: “Các ông đã quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp Diệu Tam-ma-đề của chư Phật Như Lai không sanh mỏi nhọc…”
Nửa quyển kế tiếp nói về Thiền-na – ngôi chứng, khiến trụ nơi viên định, thẳng tiến Bồ-đề. Ở quyển tám, sau khi Như Lai kết đáp tên kinh, văn có câu: “Đốn ngộ Thiền-na, sự tiến tu các ngôi Thánh, được diệu lý tăng thượng.”
Mạch văn hỏi đáp xuyên suốt, ranh giới tầng lớp phân minh, chỉ dạy đại định đầy đủ từ đầu đến cuối, rõ ràng như lòng bàn tay.
Nửa sau quyển tám lại bàn về Bảy thú, không gì chẳng phải là sự thăng trầm của tình và tưởng. Phán quyết chánh tà để cảnh tỉnh chớ đắm trước. Đó là muốn lấy giới để trợ định.
Chỉ bày tường tận Ngũ ấm ma, thảy đều do tam-muội chiêu vời đến. Ân cần dặn dò phải giác ngộ để ngừa đọa lạc. Đó là muốn lấy tuệ để trợ định.
Lại giảng rõ năm ấm đều từ vọng tưởng mà thành, ranh giới cạn sâu, diệt trừ đốn tiệm. Đó là lấy giới và tuệ để trợ định.
Toàn kinh từ đầu đến cuối, hỏi định có ba, đáp định có ba, trợ định có ba; là pháp môn viên đốn, rốt ráo thành tựu chánh định Thủ-lăng-nghiêm Vương.
—
Từ trước đến nay, các nhà sớ giải kinh này đã có rất nhiều, đủ để làm kim chỉ nam, cần gì phải viết chú giải mới nữa? Nhân vì năm tôi 24 tuổi được nghe giảng kinh này, tự thẹn học thức nông cạn, lại đối trước quá nhiều chú sớ, dụng tâm quá độ nên mắc chứng xuất huyết. Bèn ở trước Phật phát nguyện, ngửa cầu từ quang ngầm che chở, khiến bệnh dữ chóng lành; lại cầu ngộ được tâm tánh tịch thường, viên thông chân thật; con nguyện hoằng dương kinh này, biên viết giảng nghĩa để báo ân Phật.
Ít ngày sau, có một người dáng vẻ như bà lão đến nói với tôi rằng: “Không sao đâu. Lấy hoa Bạch đỗ quyên, hầm với đường phèn, uống vào sẽ khỏi.” Lời vừa dứt, tôi ngoảnh đầu nhìn thì không thấy bà lão đâu nữa, trong lòng thầm lấy làm lạ. Bèn theo lời, mua về nấu uống, qua ba lần thì ngừng xuất huyết.
Từ đó, tín nguyện càng vững, chuyên tâm nghiên cứu, trải đến mười năm. Những chỗ nghĩa lý sâu xa khó hiểu trong kinh, mỗi mỗi tôi đều ghi lại rồi dán lên vách, lần lượt tĩnh tọa tham cứu. Chỗ nào rõ ràng minh bạch rồi thì gỡ xuống. Cứ thế trải qua thêm tám năm, tất cả điều nghi dán trong phòng đều gỡ xuống sạch.
Các tác phẩm giảng nghĩa Kinh – Luận do tôi trước tác, xuất bản lưu thông đã có hơn mười loại, riêng kinh này thì trì trệ mãi. Vì diệu nghĩa của Lăng-nghiêm phong phú sâu kín, cứ giảng thêm một lần thì lại phát minh thêm một lần, trải qua một phen nghiên cứu thì lại có một phen tiến bộ. Tôi vốn muốn đóng cửa để chuyên viết sớ giải này, nhưng cơ duyên không đủ, nên thời gian cứ thế trôi đi.
Đến năm 68 tuổi, tôi cảm nhận sâu sắc cái thân già bệnh này như ngọn đèn tàn trước gió, nếu không mau chóng làm xong lời nguyện thì e rằng hối cũng chẳng kịp. Bèn tại giảng đường Viên Minh, sáng lập học viện Chuyên Tông Lăng-nghiêm, ý muốn đào tạo Tăng tài, tiếp nối hoằng dương đại giáo. Cẩn thận chọn ngày mùng Tám tháng Tư khai diễn kinh này. Mỗi ngày đích thân lên lớp giảng dạy. Thời gian còn lại thì biên soạn giảng nghĩa, đến nửa đêm canh ba mới thôi.
Cứ thế lâu ngày, nhọc nhằn quá độ, đến mùng Bốn tháng Hai năm sau, đang lúc giảng kinh thì mắc chứng trúng gió. Nhờ đệ tử Minh Dương đỡ xuống pháp tòa, về phòng rồi thì bất tỉnh nhân sự, qua bảy ngày mới có chuyển biến. May có hai lương y Hoàng Chung và Trịnh Bảo Thực chẩn trị, lúc đó mới được báo là đã yên ổn.
Năm 72 tuổi, lại nghĩ trước tác Lăng-nghiêm chưa xong, đại nguyện chưa tròn. Cư sĩ Lạc Huệ Bân khuyên tôi rằng: “Cứ thong thả biên soạn, đã có thiện nguyện, ắt sẽ thành công.” Đến mùa Hạ năm 74 tuổi thì chính thức hoàn thành, tổng cộng 24 quyển, đóng thành 5 tập. Tôi chỉ tạm dựa vào cái thấy như nhìn qua ống trúc mà luận về tánh thiên chân, nương chút tài dùng gáo nước mà dò nơi biển nghĩa. Nếu đem ra hỏi các bậc thâm nhập Lăng-nghiêm tam-muội, e khó tránh một gậy vào đầu.
—
Nay giải kinh này, tôi kính vâng theo “mười môn” của ngài Hiền Thủ. Xét các bản sớ đồng theo tông Hiền Thủ thì tên gọi và thứ tự của mười môn cũng không hoàn toàn giống nhau—hoặc đủ mười môn, hoặc lược lấy vài môn—nhưng đều là trước thuật đại ý của toàn kinh, sau mới “Giải thích nhan đề” và “Giải nghĩa văn kinh”, hai môn này đặt sau cùng. Nay tôi thay đổi một chút, đem môn “Giải thích nhan đề” lên đầu, trước tiên giải tên kinh, kế đó thuật cương yếu, sau cùng giải nghĩa văn kinh. Khiến người đọc sớ vừa mở sách đã biết nghĩa lý của tên kinh, người nghe giảng thì ngay ngày đầu được nghe giải thích tiêu đề. Đây cũng chỉ là phương tiện đặt ra nhất thời mà thôi.
Tên các khoa mục thì lấy “thiên can địa chi” để đánh dấu, giúp dễ nhớ và tiện tra cứu. Tức chia mười môn như sau:
- Giáp một – Giải thích nhan đề
- Giáp hai – Nhân duyên khởi giáo
- Giáp ba – Tạng – thừa sắp đặt
- Giáp bốn – Nghĩa lý cạn sâu
- Giáp năm – Thể giáo năng thuyên
- Giáp sáu – Sở bị cơ nghi
- Giáp bảy – Tông thú thông biệt
- Giáp tám – Thời điểm thuyết kinh
- Giáp chín – Lịch sử truyền dịch
- Giáp mười – Giải nghĩa văn kinh
Về cách chia khoa mục theo “thiên can địa chi”, cái đứng sau là con của cái đứng trước. Ví dụ sau Giáp có Ất – Bính – Đinh –… thì Ất là mục con của Giáp, Bính là mục con của Ất,… Từ Giáp mười trở đi, lúc bắt đầu vào văn kinh, mình sẽ làm sơ đồ (mindmap) và dàn ý (outline) cho bạn hình dung.
Phần đầu của lời tựa này như một bản tóm tắt toàn kinh Lăng-nghiêm, nên chỉ những ai từng học rồi mới thấm được ý vị. Nếu bạn là người mới, cứ đọc qua vài lần để nắm tinh thần chung của kinh, chấp nhận có những chỗ chưa hiểu. Còn nếu bạn từng học Lăng-nghiêm rồi, thì đây giống như bài kiểm tra xem đã nắm được hết nội dung chưa.
Về thuật ngữ, có hai loại mình sẽ không giải thích:
- Có thể hiểu được qua ngữ cảnh
- Sẽ được giải thích sau
Và do là văn viết, nên thuật ngữ nào đã được giải thích thì về sau khả năng cao sẽ không nhắc lại nữa. Ví dụ ở bài giới thiệu lần trước, mình có đề cập “nhị thừa Thanh văn – Duyên giác”. Tuy chưa giải thích Thanh văn và Duyên giác là gì nhưng dựa vào ngữ cảnh có thể biết nhị thừa là hai nhóm đó. Nên về sau khi từ “nhị thừa” xuất hiện một mình, bạn cần hiểu là đang chỉ chung Thanh văn và Duyên giác.
