CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 10

Giáp 9 – Lịch sử truyền dịch
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Ất một – Người chủ trì
Đời Đường, Sa-môn Bát-lạt-mật-đế, người Trung Thiên Trúc, dịch.
“Đường” là tên triều đại, cách ghi thời gian ngày xưa. Theo Dịch Kinh Đồ Ký, kinh này được phiên dịch vào thời nhà Đường, khi Võ Tắc Thiên đã thoái vị, vua Trung Tông nối ngôi, niên hiệu Thần Long năm thứ nhất (tức năm 705 dương lịch), ngày 23 tháng 5. Đây có lẽ là ngày bắt đầu dịch kinh.
“Sa-môn” là danh xưng chung cho người xuất gia tu đạo, dịch là siêng trừ, tức siêng tu giới định tuệ, dứt trừ tham sân si. Lại nói: “Biết tâm, đạt đến tận nguồn, nên gọi là sa-môn.” Như vậy, hai chữ “sa-môn” không dễ xưng nhận. Nếu không tu giới định tuệ, chưa đoạn tham sân si, chưa đạt đến nguồn của nhất tâm, thì đều đáng hổ thẹn khi xưng là sa-môn.
Lại có bốn hạng sa-môn:
- Sa-môn thắng đạo: người tu hành chứng quả.
- Sa-môn thuyết đạo: người hoằng pháp lợi sanh.
- Sa-môn hoạt đạo: người trì giới, tu thân, nương đạo mà sống.
- Sa-môn ô đạo: người không giữ giới, làm bại hoại cửa Phật.
Vị chủ dịch đây thuộc về ba hạng đầu.
“Bát-lạt-mật-đế” là tên riêng của vị chủ trì dịch kinh, có nghĩa cực lượng. Ngài là một vị tăng có tài trí.
Cũng có cách phiên âm khác là “Bát-thích-mật-đế”. Do chữ “lạt” (剌) và “thích” (刺) chỉ khác chút xíu, nên khi xem bản chép tay, vết mực mờ hoặc lem thì không phân biệt được.
“Trung Thiên Trúc” là nơi sinh của ngài. Thiên Trúc nằm ở trung tâm Nam Diêm-phù-đề, tức Ấn Độ ngày nay. Rộng hơn chín vạn dặm, chia làm năm khu Đông – Tây – Nam – Bắc – Trung, gồm hơn 70 nước. Ngài là người Trung Thiên Trúc nhưng không rõ thuộc nước nào.
“Dịch” nghĩa là biến đổi—đổi chữ Phạn thành chữ Hán, Phạn văn thành Hán văn. Có sự khác nhau giữa phiên âm và dịch nghĩa. Ngôn ngữ và chữ viết của Tây Vực hoàn toàn khác với Trung Quốc. Nếu xem bản Phạn mà âm và nghĩa đều chưa được dịch, thì chẳng những không hiểu lời văn, mà âm của chữ cũng không đọc được. Theo âm của nó mà dùng chữ Hán thay thế, gọi là phiên âm. Lại cần có người thông suốt ngôn ngữ của cả hai nước, đổi từng chữ từng câu Phạn văn thành Hán văn, như vậy mới hiểu được nội dung và thông tỏ nghĩa lý.
Kinh này vốn được cất giữ trong long cung. Nhân vì Bồ-tát Long Thắng đến long cung thuyết pháp, thấy trong kho tàng có bộ kinh này, mở ra đọc, khen là hy hữu. Nên ngài âm thầm tụng thuộc rồi truyền ra, để giúp ích chúng sanh cõi Diêm-phù-đề. Quốc vương cũng xem đây là pháp bảo hy hữu, nên cất giữ trong kho của quốc gia, cấm truyền sang nước khác.
Lăng-nghiêm chưa truyền được đến Trung Hoa, nhưng danh tiếng đã lan tới trước. Vì có vị Phạn tăng gặp Đại sư Trí Giả, nói rằng ba phép quán do sư lập ra rất hợp với kinh Lăng-nghiêm ở nước họ.
Từ đó, Đại sư Trí Giả hướng về phương Tây, sớm tối lễ bái cầu kinh Lăng-nghiêm. Bệ đài trên núi Thiên Thai đến nay vẫn còn. Cứ thế ròng rã suốt 18 năm đến khi ngài mất, rốt cuộc vẫn chưa được thấy kinh.
Đại sư Trí Giả (còn có tên Trí Khải, Trí Di) chính là tổ sư sáng lập tông Thiên Thai. Ngài mất năm 597. Mãi đến năm 705, Lăng-nghiêm mới đến được Trung Hoa.
Vị chủ dịch có chí nguyện làm lợi ích phương này. Lần đầu giấu kinh đi về phương Đông, bị quan lại giữ biên giới tra xét bắt được, không cho xuất cảnh. Song nguyện hoằng pháp của ngài càng thêm kiên cố. Ngài bèn dùng tấm lụa trắng cực mỏng, viết bộ kinh này lên đó, rồi rạch cánh tay ra giấu kinh vào. Đến khi miệng vết thương lành lại, ngài mới xin xuất cảnh. Quan ải lục soát không thấy, ngài được theo đường biển mà đến Trung Hoa.
Vào năm Thần Long thứ nhất đời Đường, ngài đến Quảng Châu. Vừa lúc tướng Phòng Dung bị biếm ra đó, giữ việc tuyển quan cho phía Nam. Ông thỉnh ngài đến chùa Chế Chỉ, rạch cánh tay lấy kinh ra. Công việc phiên dịch hoàn tất, ngài Bát-lạt-mật đế nhanh chóng trở về nước, để gỡ nạn cho quan lại giữ biên giới. Nhân việc kinh Lăng-nghiêm bị đem ra nước ngoài, quốc vương trách tội quan giữ biên, nên ngài mới mau chóng trở về, nguyện lấy thân mình gánh chịu tội ấy.
Ngài phạm lệnh cấm, chịu bao gian khổ, không tiếc thân mạng, khiến chúng ta ngày nay được thấm nhuần pháp thí. Thật đúng là trọng pháp quên thân, công lao không gì lớn hơn! Tuy ngài “công thành, thân thoái”, nhưng không thể quên công đức ấy mà để mất tên ngài. Vì vậy nêu tên ngài trước tiên, để tôn trọng bậc nguyên huân.
Công thành, thân thoái: Tức sau khi công việc đã thành tựu, liền lui thân ẩn đi, không tham hưởng công trạng hay vinh quang, để lại tất cả cho người khác.
Nguyên huân: Người có công trạng lớn thuở ban đầu.
Ất hai – Người dịch văn
Sa-môn Di-già-thích-ca, người nước Ô-trường, dịch văn.
“Ô-trường” là tên quốc gia. Trong Huyền Trang Truyện chép là Ô-trượng-na, Hán dịch là uyển, tức như vườn nai Lộc Uyển của vua A-dục-ca. Tên cũ là Ô-tràng, ở Bắc Thiên Trúc.
“Di-già-thích-ca” nghĩa là năng hàng phục.
Dịch văn: Cần thông thạo hai ngôn ngữ để chuyển Phạn văn qua Hán văn, định lại ngôn từ cho thành chương cú. Công lao ấy cũng rất lớn, nên cần được nêu cùng ra đây.
Ất ba – Người chứng dịch
Sa-môn Hoài Địch, chùa Nam Lâu, núi La Phù, chứng dịch.
Bản cổ có một dòng ghi tên người chứng dịch, nên nay thêm vào đây.
“Địch” nghĩa là tiến lên. Sư lấy tên tự Hoài Địch, ý nói thường ôm giữ chí tinh tấn.
Chùa Nam Lâu là nơi sư Hoài Địch cư trú. Còn La Phù là một ngọn núi có tiếng ở tỉnh Quảng Đông.
“Chứng dịch” nghĩa là ở cả phần âm và văn, rà soát thẩm định lại toàn bộ cho chính xác (tức là “hiệu đính” theo ngôn ngữ ngày nay). Ngài Hoài Địch có quá trình lâu dài học tập kinh luận, lại thông thạo Phạn ngữ, nên đảm nhận vai trò này. Hai vị trước tuy đều giỏi Hán văn, nhưng vì mới đến Trung Hoa, e rằng việc dịch thuật chưa thể chu toàn. Nay có vị sư bản xứ chứng minh, có thể nói là toàn vẹn, trọn đẹp. Công lao ấy cũng không thể để lu mờ vậy.
Ất bốn – Người nhuận văn
Đệ tử Bồ-tát giới, nguyên Chính nghị đại phu, Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, người Thanh Hà, Phòng Dung, bút thọ.
“Bồ-tát giới” là giới pháp Đại thừa, gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh, hàng tại gia cũng có thể thọ trì. Kinh Phạm Võng nói: “Khi muốn nhận ngôi quốc vương, khi trăm quan nhận chức, trước hết nên thọ Bồ-tát giới. Hết thảy quỷ thần sẽ cứu hộ thân vua và thân của trăm quan.” Tướng Phòng Dung tuân theo điều ấy, xem Bồ-tát là anh, xem Phật là cha, nên tự xưng đệ tử. Đây là pháp hàm của ông. Còn vế sau là chức vụ thế gian.
Chính nghị đại phu: Chính nghị, sử gọi là Chính gián—tên chức quan ngôn luận. Còn Đại phu là chức vụ có trách nhiệm sửa trị phong hóa, gầy dựng nhân tài, duy trì đạo lý thế gian, tiến cử người hiền tài. Đây là chức vụ cũ từng nắm giữ, nên ghi “nguyên Chính nghị đại phu”.
Phong hóa: Giáo hóa phong tục. Tức là giáo hóa cho nền đạo đức, nếp sống, phong tục xã hội được tốt lên.
Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự: Nguyên cụm này cũng là tên chức vụ.
“Đồng” nghĩa là kiêm. “Trung thư” và “Môn hạ” đều là nội tỉnh, tên gọi của hai phủ tể tướng bên tả và bên hữu. Trung thư phần nhiều phụ trách lời chiếu mệnh của vua. Môn hạ phần nhiều ban hành chính sự. Phòng Dung tạm kiêm cả hai chức, nên gọi là đồng. Hơn nữa, cũng vì công việc có nhiều quan liêu phụ tá cùng tham dự vào, nên gọi là đồng.
Nội tỉnh: Cơ quan hành chính trung ương ở trong triều đình (nội đình).
Thời phong kiến Trung Hoa có ba cơ quan quyền lực cao nhất (tam tỉnh) là:
- Thượng thư tỉnh: Cơ quan hành chính tối cao, thay mặt vua thi hành chính sự
- Trung thư tỉnh: Soạn thảo, ban hành chiếu lệnh của vua
- Môn hạ tỉnh: Thẩm định, xem xét chính sách của Trung thư tỉnh
Bình chương sự: “Bình” nghĩa là quân bình, điều hòa. “Chương” nghĩa là làm sáng tỏ. “Sự” là các việc hành chính, quy chế nhà nước. Sách Thư nói “bình chương bách tính”, tức là điều hòa chính sự, hiển chương phép tắc.
“Thanh Hà” là tên địa danh, quê hương của Phòng Dung. Con của ông là Phòng Quản, hai cha con đều làm tướng. Chuyện về Phòng Dung được lược chép trong truyện của Phòng Quản.
Bút thọ: Cầm bút xác định văn tự. Tức sau khi phiên âm và dịch nghĩa, lại hỏi kĩ và đối chiếu xem Hán văn và Phạn văn có tương đương không, rồi mới hạ bút. Đây cũng là tên một chức phận chuyên trách trong tràng dịch.
Chính Mạch xếp ông vào khoa người nhuận văn. Vì ông có tài của bậc tể phụ, nhuận sắc kinh này khiến văn và nghĩa đều đẹp, nên câu chữ và văn pháp của Lăng-nghiêm đứng đầu trong các kinh.
Mình hình dung tràng dịch thế này:
- Ngài Bát-lạt-mật-đế là người đọc và giải thích Phạn văn.
- Ngài Di-già-thích-ca dịch Phạn ngữ ra Hán ngữ.
- Ngài Hoài Địch thẩm định và hiệu đính.
- Tướng Phòng Dung hỏi xác nhận lại và đặt bút viết thành văn bản chính thức. Trong quá trình đó, ông đồng thời trau chuốt câu văn cho đẹp đẽ.
Cũng vì Lăng-nghiêm có mạch lý luận sắc bén, câu cú trau chuốt, văn phong Hán đẹp đẽ đến mức thuần thục, nên có những người nghi ngờ Lăng-nghiêm là tác phẩm của Trung Quốc, không phải được dịch từ Phạn văn. Thật đáng tiếc thay, họ chỉ là những học giả mò mẫm trên sự hoa mỹ của văn chương, mà chẳng đạt được phần nghĩa lý nằm đằng sau ấy.
Phòng Dung có nhân duyên sâu xa với kinh này. Ban đầu ông là người thỉnh dịch, kế đó bút thọ, rồi lại nhuận văn. Về sau chính ông dâng vào nội đình. Tuy chưa được vua Trung Tông ban bố lúc ấy, nhưng về sau nhờ ngài Thần Tú vào nội đình sao chép truyền ra, cộng thêm Phòng Dung cất giữ bản gốc trong nhà, cuối cùng khiến kinh được lưu thông, thịnh hành khắp trong nước. Nên Phòng Dung không chỉ riêng có công với kinh Lăng-nghiêm, mà thật sự có công lớn với cả chúng sanh phương này.
Các đời Tấn, Tống, Tề, Lương, Đường,
Cao tăng cầu pháp rời Trường An.
Người đi hàng trăm, về chưa đến mười,
Kẻ sau sao biết gian lao của người trước.
Đường xa, trời xanh mà chỉ thấy cái lạnh buốt kết tụ,
Gió cát sa mạc che mặt trời, sức cùng lực kiệt.
Hàng hậu học nếu chưa hiểu ý này,
Đối trước kinh điển thường xem quá dễ dàng.— Tam tạng Nghĩa Tịnh đời Đường, bài thơ Đề Thủ Kinh
“Giáp chín – Lịch sử truyền dịch” hết.
