CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 11

Tựa chứng tín – Nêu rõ năm nghĩa

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Giáp mười – Giải nghĩa văn kinh

  • Ất một – Phần Tựa
  • Ất hai – Phần Chánh tông
  • Ất ba – Phần Lưu thông

Cách chia ba phần này bắt nguồn từ Pháp sư Đạo An, và được xác nhận trong luận Phật Địa của Bồ-tát Thân Quang. Luận ấy cũng chia ba phần:

  1. Phần nhân duyên khởi giáo
  2. Phần nội dung Thánh giáo
  3. Phần tin nhận phụng hành

Hoàn toàn giống với cách của Pháp sư Đạo An. Vì thế các pháp sư đời sau đều y theo cách chia này.

Từ đây bắt đầu vào văn kinh. Bạn cần biết: Học vào chi tiết thì sẽ dễ hiểu và bớt trừu tượng hơn so với các kỳ trước. Nhưng đổi lại, mạch ý lớn sẽ bị cắt đứt. Vì thế trong quá trình học kĩ các chi tiết, cần thường xuyên liên hệ về bức tranh lớn, để tránh sa đà vào những thứ nhỏ nhặt mà đi lạc khỏi mạch ý chính của văn kinh. Mình hỗ trợ bạn hai công cụ:

  • Một là sơ đồ phân khoa (mindmap) ở đầu bài, giúp bạn ý thức phần sắp học nằm ở đâu trong bức tranh lớn.
  • Hai là trang văn kinh ở cuối bài, giúp bạn quay về đọc riêng văn kinh sau khi đã hiểu tường tận các chi tiết.

Ngoài ra, thỉnh thoảng bạn cũng nên đọc lại các bài tổng quan ở trước như giải thích nhan đề, nhân duyên khởi giáo, nghĩa lý, tông thú,… Để xem qua một thời gian, bạn đã hiểu những ý lớn của Lăng-nghiêm đến mức nào rồi.

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Đinh một – Nêu rõ năm nghĩa

Năm nghĩa là: tín, văn, thời, chủ, xứ. Nếu thêm “thính chúng” vào thì thành sáu thứ thành tựu. Dùng để chứng minh pháp này đáng tin, nên gọi là tựa chứng tín.

Như vậy tôi nghe:

“Như vậy” là từ để chỉ pháp. “Tôi nghe” là nêu cái gốc của sự truyền trao và lãnh thọ. Tức chỉ bộ kinh gồm mười quyển huyền diệu như vậy, đích thân tôi là A-nan được nghe từ Phật, do Phật truyền thụ, còn tôi lãnh thọ.

Thêm nữa, “như vậy” là từ biểu thị sự tin nhận và thuận theo, tức tín thành tựu. Tin thuận pháp này thì nói “như vậy”, không tin thì nói “không phải như vậy”.

“Như vậy” gọi là tín thành tựu, vì giúp thành tựu niềm tin cho người nghe. Cả Tôn giả A-nan và đại chúng đều tin thuận pháp được tụng lại này đúng như lời Phật đã nói.

Tin thuận có hai ý: một là tin nhận đúng như vậy, hai là thuận theo không trái nghịch.

Bấy giờ, khi A-nan kết tập kinh điển, đại chúng thỉnh rằng: “Những gì tôn giả đã nghe, xin hãy y như vậy mà nói lại.” A-nan đáp: “Đúng như vậy! Tôi sẽ nói lại đúng như những gì đã nghe.” Đó đều là ý tin thuận.

Tín là nguồn của đạo, là mẹ của công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành. Chư Phật khi còn ở nhân địa (địa vị tu nhân), đều do tín mà sanh giải, nương giải mà lập hạnh, nhân hạnh mà đắc chứng quả Vô thượng đạo. Vậy nên tín là căn nguyên của Phật đạo.

Lại nữa, tín đứng đầu trong năm căn. Tín căn đã đủ, thì hết thảy công đức đều từ tín mà sanh, nên gọi là mẹ của công đức. Tất cả pháp lành cũng nhờ tín mà được tăng trưởng.

“Năm căn” nằm trong 37 phẩm trợ đạo, gồm tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Gọi “căn” vì chúng là gốc rễ sinh ra những thứ khác.

Vì thế, trong sáu thứ thành tựu, lấy tín đứng thứ nhất, gọi là tín thành tựu.

“Tôi nghe” là văn thành tựu.

Chữ “tôi” có bốn loại khác nhau:

  • Cái “tôi” mà phàm phu vọng chấp
  • “Thần ngã” mà ngoại đạo lầm chấp
  • Cái “tôi” giả danh, tùy thuận thế gian của Bồ-tát
  • Pháp thân chân ngã của Như Lai

Nay A-nan xưng “tôi”, chính là tùy thuận thế gian, giả lập mà xưng vậy.

“Nghe” là từ nhĩ căn phát ra nhĩ thức, nghe âm thanh giáo hóa của Phật. Do tai mà thông đạt đến tâm, nên có thể ghi nhớ.

Hết thảy chúng sanh đều nhận lầm tai thịt có thể nghe. Phật vì thế không nói “tai nghe”, mà dạy nói “tôi nghe”. Ấy là có thâm ý vậy!

Theo kinh này, “tôi nghe” hàm ý: tánh nghe như vậy là tâm, không phải tai; do tánh nghe bất sanh diệt trong căn, gá nơi căn mà nghe pháp. Tai thịt thật không có công năng nghe pháp, nên nói “tôi nghe”.

“Như vậy tôi nghe” có bốn nghĩa:

Một, dứt trừ nghi ngờ của đại chúng:

Vì lúc A-nan kết tập kinh tạng, vừa bước lên pháp tòa thì có tướng hảo giống Phật. Đại chúng liền khởi ba điều nghi:

  • Nghi Phật tái lai
  • Nghi A-nan thành Phật
  • Nghi Phật ở phương khác đến

Đến khi A-nan cao giọng xướng lên: “Như vậy tôi nghe”, ba mối nghi ấy liền dứt.

Hai, theo lời dặn của Phật:

Khi Phật sắp nhập Niết-bàn, A-na-luật-đà dạy A-nan thưa hỏi Phật bốn việc:

  1. Khi Phật còn tại thế, chúng con nương nơi Phật mà an trụ. Sau khi Phật diệt độ, chúng con nương vào đâu mà an trụ?
  2. Khi Phật còn tại thế, chúng con nương Phật làm thầy. Sau khi Phật diệt độ, chúng con nương ai làm thầy?
  3. Phật diệt độ rồi, lúc kết tập kinh điển, ở đầu các kinh nên đặt lời gì?
  4. Đối với các Tỳ-kheo tánh ác, sau khi Phật diệt độ nên xử trí thế nào?

Phật đáp:

  1. Nương Tứ niệm xứ mà an trụ.
  2. Lấy giới luật làm thầy.
  3. Về sau khi kết tập kinh điển, ở đầu tất cả các kinh đặt rằng: Như vậy tôi nghe, một thời, Phật ở chỗ đó, cùng với đại chúng đó đó.
  4. Đối với Tỳ-kheo tánh ác, hãy im lặng mà đuổi đi.

Ba, dứt sự tranh luận:

Vì A-nan chỉ ở ngôi Sơ quả, đức hạnh và đạo nghiệp chưa bằng các vị A-la-hán, huống chi những bậc cao hơn. Nếu không nói “tôi nghe”, ắt gây nên sự tranh cãi.

Nay nói “như vậy tôi nghe”, có nghĩa: pháp như vậy là do tôi nghe từ Phật. Đại chúng đều biết A-nan đa văn đệ nhất, một lần nghe qua tai là thấu đạt đến tâm, vĩnh viễn không quên mất. Vì thế mà dứt sự tranh luận.

Bốn, để khác với ngoại giáo:

Các kinh của ngoại đạo, ở đầu đều đặt hai chữ “a ưu”. “A” nghĩa là không, “ưu” nghĩa là có. Vì họ đối với hai bên Có – Không, không quyết định được, nên đặt hai chữ ấy ở đầu kinh.

Phật dặn đặt sáu duyên thành tựu ở đầu kinh là để khác với họ vậy.

Ở trên là giải thích theo mặt sự. Giờ lại dùng mặt lý để giải thích:

Pháp “như vậy”, theo kinh này thì Tạng tánh diệu chân như là “như”. “Như” có nghĩa là bất động. Tạng tánh trùm khắp hư không, đầy khắp pháp giới, trong lặng ngưng nhiên, như như bất động.

Còn hết thảy sự rốt ráo kiên cố là “vậy”. “Vậy” dùng để chỉ không gì chẳng phải. Đem hết thảy các pháp sự tướng ra mà tường tận truy xét, truy đến chỗ tận cùng, tức chỗ gọi là thấu suốt đến tận nguồn đáy của dòng chảy pháp. Thì biết: toàn sự tức lý, toàn tướng đều là tánh, kiên cố bất hoại, không một vật nào chẳng phải tâm ta, không một pháp nào chẳng phải thể của ta.

“Tôi nghe”, xét theo lý tức là dùng chân ngã vô ngã, để khởi cái nghe chân thật (không phải vọng tình) mà nghe pháp “như vậy” này. Nghe pháp nào cũng đều là như, pháp nào cũng đều là vậy, chỉ một tánh Như Lai Tạng làm thể lý của kinh này, ấy gọi là văn thành tựu.

Một thời, Phật ở tinh xá Kỳ-hoàn, thành Thất-la-phiệt.

“Một thời”, tức thời thành tựu.

Thế sự hội họp còn phải chờ thời cơ tốt đẹp, huống chi việc hoằng tuyên đại pháp, lẽ nào lại không có thời vận? Đại khái thì phải nhờ thời điểm thích hợp, pháp mới phát huy được lợi ích. Thầy trò đạo hợp, nói và nghe trọn vẹn từ đầu đến cuối, gọi là “một thời”.

Không thể xác định chắc chắn thời gian nào, vì hai lý do:

  • Lịch của Trung Hoa và Ấn Độ khi xưa không giống nhau
  • Cả bộ kinh Lăng-nghiêm không phải được thuyết chỉ trong một thời

Đó là thời thành tựu.

“Phật”, tức chủ thành tựu, vì Phật là vị chủ thuyết pháp.

Phạn ngữ Phật-đà (Buddha) dịch là giác giả, tức là bậc đại giác ngộ. Nay theo ý Chung Thật giáo của kinh này mà giải thích. “Giác” có ba nghĩa, chia làm hai cách giải thích:

  1. Bản giác, thủy giác, cứu cánh giác. Nghĩa là y vào thể lý là bản giác không sanh diệt sẵn đủ trong căn, khởi trí chiếu là thủy giác, hồi quang phản chiếu. Soi đến khi hoặc diệt hết – trí viên mãn, trí thủy giác và thể bản giác hợp nhất, thành cực quả cứu cánh giác, gọi đó là Phật.
  2. Tự giác, giác tha, giác mãn. Nghĩa là tự mình đã giác ngộ, rằng mình vốn là Phật, chỉ vì mê mà làm chúng sanh. May thay, tuy mê nhưng Phật tánh không mất, trong thân sanh diệt này tự có Phật tánh bất sanh bất diệt. Đã tự giác rồi, lại đem lý Đại thừa này lần lượt hóa tha, giác tỉnh cho hết thảy hữu tình. Trí – bi cùng vận, ta – người cùng lợi. Đến khi giác viên mãn—tự giác thì tuệ viên mãn, giác tha thì phước viên mãn—phước tuệ tròn đầy, muôn đức trọn đủ, siêu vượt chín pháp giới mà riêng thành bậc tôn quý. Tự giác thì khác với phàm phu, siêu vượt sáu pháp giới phàm. Giác tha thì khác với Tiểu thừa, siêu vượt hai pháp giới Thanh văn – Duyên giác. Giác mãn thì khác với phần chứng, siêu vượt pháp giới Bồ-tát. Được A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, gọi đó là Phật.

“Phật” là một trong mười tên thông hiệu, chỉ vị giáo chủ cõi Ta-bà này. Ngài vốn là thái tử con vua Tịnh Phạn, nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilvastu) ở Trung Thiên Trúc. Mười chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni (Śākyamuni). Đó là chủ thành tựu.

“Ở tinh xá Kỳ-hoàn, thành Thất-la-phiệt”, tức xứ thành tựu. Vế đầu là nơi trú ngụ, vế sau là nơi giáo hóa.

Phật có ba thân:

  • Pháp thân: Không ở đâu, mà không đâu chẳng ở. Vì pháp thân không có tướng, nên không ở đâu nhất định. Vì pháp thân trùm khắp mọi nơi, nên không nơi nào chẳng ở. Kinh nói: “Pháp thân thanh tịnh, ví như hư không”, cũng là nghĩa không ở đâu mà không đâu chẳng ở.
  • Báo thân: Có vô lượng tướng hảo trang nghiêm, ở tại thế giới Liên Hoa Tạng.
  • Ứng thân: Tùy căn cơ chúng sanh mà thị hiện. Hoặc ở núi Linh Thứu, hoặc ở vườn Trúc Lâm. Nay thì ở tinh xá Kỳ-hoàn, thành Thất-la-phiệt. Vì có dấu tích thị hiện nơi đây, nên bất luận lâu hay mau, đi hay đến, động hay dừng, đều gọi là “ở”.

Thành Thất-la-phiệt (Śrāvastī) là kinh đô của nước Kiều-tát-la (Kosala). Vì có hai nước cùng tên, nên lấy tên kinh đô của vua để gọi phân biệt. Đây là nơi vua Ba-tư-nặc đóng đô.

Tức là thời đó có hai nước cùng tên Kiều-tát-la, một ở phía Nam, một ở phía Bắc. Để phân biệt, người ta gọi nước Kiều-tát-la ở phía Bắc (của vua Ba-tư-nặc) bằng tên kinh đô, tức thành Thất-la-phiệt, hoặc cách phiên âm cũ là thành Xá-vệ.

“Thất-la-phiệt”, Hán dịch là phong đức. Xưa giải thích rằng, nước này sung túc dồi dào bốn đức: ngũ dục, tài bảo, đa văn, giải thoát. Trong đó, ngũ dục là năm trần dục cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nhưng tôi cho rằng, tài bảo và ngũ dục không xứng gọi là đức, nên đem hai chữ “phong đức” tách ra mà giải thích: Đất thì phong phú tài bảo và ngũ dục. Người thì có đức đa văn và giải thoát. Vì thế gọi là phong đức.

“Kỳ”, nói đủ là Kỳ-đà (Jeta), còn gọi là Thệ-đa, có nghĩa chiến thắng, tên của thái tử con vua Ba-tư-nặc. Vì khi thái tử sinh ra, đúng lúc nhà vua chiến thắng nước khác, ca khúc khải hoàn trở về triều, nên vua ban cho tên ấy để ghi dấu niềm vui.

Còn Phạn ngữ “hoàn” nghĩa là rừng.

“Tinh xá” là nơi trưởng giả Tu-đạt-đa vì Phật mà xây dựng, để cúng dường chúng Tăng tinh chuyên tu phạm hạnh.

Nay gọi là tinh xá Kỳ-hoàn, vì khu rừng là do thái tử bố thí, còn tinh xá là do trưởng giả xây dựng. Gộp hai tên để ghi nhớ công đức của cả hai, và lưu lại mãi sự việc tốt đẹp ấy.

Có kinh khác gọi là “Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên”. Kỳ thụ là cây cối trong rừng Kỳ-đà. Cấp Cô Độc là thiện danh của trưởng giả Tu-đạt-đa. Trưởng giả là người rất giàu có, bình sinh thích làm việc thiện và bố thí, thường dùng tài vật chu cấp cho người cô độc, nên được tên ấy.

Khu vườn vốn là hoa viên của thái tử Kỳ-đà. Trưởng giả muốn có nơi để thỉnh Phật đến thuyết pháp, bèn thương lượng mua lại. Thái tử đùa rằng: “Ông giàu có vô lượng, nếu có thể dùng vàng trải đầy mặt đất trong vườn thì xem như ông mua được.” Trưởng giả liền kiên quyết cho chở vàng đến trải khắp vườn. Thấy vậy, thái tử ngăn lại: “Lời trước chỉ là nói đùa thôi.” Trưởng giả nói: “Điện hạ hôm nay là bậc quân vương ngày sau. Bậc quân vương không nói đùa, há có thể thất tín ư?”

Đến khi vàng đã trải khắp vườn, thái tử nói: “Tôi nên cùng ông thành tựu công đức cúng dường Phật Tăng.” Trưởng giả không chịu. Thái tử lại nói: “Đất vườn đã được trải khắp bằng vàng, đương nhiên thuộc về ông. Nhưng gốc cây là chỗ vàng không trải được, tự nhiên vẫn là của tôi.”

Trưởng giả đành phải chấp thuận. Thái tử còn tự mình dựng cổng lầu, thỉnh Phật ra vào. Vì vậy gọi là Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên.

Đại pháp Lăng-nghiêm được nơi thắng địa này để hoằng tuyên, đó là xứ thành tựu.

Gộp hết các nghĩa tín – văn – thời – chủ – xứ, “Đinh một – Nêu rõ năm nghĩa” đến đây đã xong.

Văn kinh Việt dịch

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *