CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 12

Liệt kê thính chúng – Chúng Thanh văn
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Kỷ một – Theo dấu tích mà nêu số lượng
Cùng với chúng đại Tỳ-kheo, một nghìn hai trăm năm mươi vị,
Đây là cái thứ sáu: chúng thành tựu.
Ở trước đã nêu rõ năm nghĩa, đến đây dẫn tiếp thính chúng ra để chứng tín. Rằng pháp như vậy không phải chỉ riêng tôi nghe, mà còn có 1250 vị đại Tỳ-kheo ở đó cùng nghe. Văn sau lại có thêm vô lượng Bích-chi, Hằng hà sa Bồ-tát. Như vậy đầy đủ sáu thứ thành tựu, chứng minh pháp này đáng tin.
Đại Tỳ-kheo: Chữ “đại” có đủ ba nghĩa là lớn, nhiều và giỏi:
- Lớn: Khác với người đức nhỏ. Vì được chư thiên, quốc vương và các bậc đại nhân kính ngưỡng.
- Nhiều: Khác với người hiểu biết ít. Vì thông suốt rộng rãi cả nội giáo và ngoại điển.
- Giỏi: Khác với người căn khí thấp kém. Vì siêu vượt hơn 96 loại ngoại đạo.
“Tỳ-kheo” là Phạn ngữ. Trong năm trường hợp không phiên dịch (ngũ chủng bất phiên) thì thuộc loại bao hàm nhiều nghĩa (đa hàm bất phiên). Cụ thể thì “Tỳ-kheo” có ba nghĩa:
- Khất sĩ: Bên ngoài khất thực nuôi sắc thân. Bên trong khất pháp dưỡng tuệ mạng.
- Phá ác: Thô thì phá các lỗi thuộc bảy chi thân khẩu. Tế thì phá các thứ ác thuộc kiến hoặc, tư hoặc trong ba cõi (giới nội phiền não).
- Bố ma (khiến ma khiếp sợ): Khi Tỳ-kheo đăng đàn thọ giới cụ túc, được ba vị thầy và bảy vị chứng minh tác pháp truyền giới. Sau khi bạch tứ yết-ma thì gọi là đắc giới—thành tựu tánh Tỳ-kheo, đứng vào hàng Tăng bảo. Lúc ấy, loài la-sát sống ở mặt đất lớn tiếng xướng rằng: “Lành thay, lành thay! Nơi đây có thiện nam nữ chánh tín, đúng pháp xuất gia, thọ giới cụ túc, khiến trời người thêm thù thắng, còn a-tu-la bị tổn hại.” Thế là loài dạ-xoa đi trên không và loài dạ-xoa trên trời lần lượt tán thán, khiến âm thanh truyền tới cõi trời thứ sáu. Ma vương nghe được, trong lòng sanh sợ hãi. Vì ma vương tham đắm trần lao, không chịu xả sanh tử, sợ rằng người xuất gia càng đông thì Phật giới càng tăng, ma giới càng giảm.
Bảy chi thân khẩu: Thân có sát sanh, trộm cắp, dâm dục (thường gọi tắt là sát, đạo, dâm). Miệng có nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói lời ác.
Bạch tứ yết-ma: Tức là một lần tác bạch (trình bày) về việc mình thọ giới, và ba lần yết-ma xin đại chúng thông qua.
Yết-ma, Hán dịch là tác pháp biện sự. “Tác pháp” là cử hành nghi thức, luật định. “Biện sự” là xử lý, hoàn thành công việc (như “biện pháp” nghĩa là phương pháp xử lý). Vậy “tác pháp biện sự” nghĩa là xử lý cho xong công việc theo nghi thức, luật định. Trong ngữ cảnh này:
- Sự việc cần xử lý: có người xin thọ giới.
- Tác pháp: một lần trình bày, ba lần thông qua.
- Biện thành tựu: người ấy được đắc giới.
Nếu bạn thấy rườm rà quá thì hiểu yết-ma đơn giản là nghi thức xin sự chấp thuận từ Tăng đoàn.
Cõi trời thứ sáu: tức cõi trời thứ sáu của Dục giới, là Tha Hóa Tự Tại.
Chúng: Phạn ngữ Tăng-già, dịch là chúng hòa hợp.
Hòa hợp có hai:
- Lý hòa: cùng chứng trạch diệt vô vi.
- Sự hòa, có sáu: giới hòa cùng tu, kiến hòa cùng giải, lợi hòa cùng chia, thân hòa cùng ở, khẩu hòa không tranh, ý hòa cùng vui.
Trạch diệt vô vi:
- Trạch: giản trạch, phân biệt chọn lựa.
- Diệt: diệt phiền não, diệt sự trói buộc.
- Vô vi: không do nhân duyên tạo tác.
“Trạch diệt” bổ nghĩa cho “vô vi”. Tức là cái vô vi có được từ trí tuệ giản trạch biết đoạn diệt phiền não.
“Chúng” là danh xưng dành cho nhóm từ bốn người trở lên. Vì vậy một, hai hay ba Tỳ-kheo cũng không gọi là chúng Tăng. Phải bốn vị Tỳ-kheo cùng ở, mới có thể làm các Tăng sự đúng pháp, ngoại trừ ba loại yết-ma là tự tứ, truyền giới cụ túc, và xuất tội.
Nếu có năm Tỳ-kheo cùng ở thì có thể tự tứ, và cũng có thể truyền giới cụ túc ở vùng biên địa. Nếu có mười Tỳ-kheo cùng ở thì đều có thể truyền giới cụ túc. Còn từ hai mươi Tỳ-kheo cùng ở thì tất cả các pháp yết-ma đều có thể thực hiện.
Chúng ở hội Lăng-nghiêm đây toàn là các vị đại Tỳ-kheo.
Một nghìn hai trăm năm mươi: đây là nêu số lượng.
Trước hết, Phật độ nhóm năm người Kiều-trần-na ở Vườn Nai. Kế đó, độ ba anh em Ca-diếp cùng đồ chúng một nghìn người. Tiếp đó, độ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, thầy trò mỗi bên một trăm người. Kế nữa, độ nhóm Da-xá năm mươi người. Tổng cộng 1255 người, ở đây lược đi phần số lẻ.
Những vị này trước kia đều tu dị đạo, siêng năng khổ nhọc mà không được gì. Sau khi gặp Phật thì được nhiều lợi ích, cảm ân đức nên thường theo hầu Phật.
Kỷ hai – Hiển bản địa mà tán thán đức
Đều là bậc vô lậu đại A-la-hán.
Đây là hiển bày bản địa quá khứ (địa vị gốc sâu xa từ trước) của các đại Tỳ-kheo. Còn từ “Phật tử trụ trì” đến “vượt các trần lụy” là căn cứ bản địa mà khen ngợi đức.
Các vị trong chúng đây, bên trong đều âm thầm tu hạnh đại tâm (tức hạnh Bồ-tát), còn bên ngoài hiện thân Thanh văn. “Thanh” là âm thanh, “văn” là nghe, tức nghe âm thanh giáo pháp, tu đạo rồi chứng quả.
“Đại A-la-hán vô lậu”, tuy giống tên gọi thông thường, nhưng xem các câu tán thán công đức ở dưới thì khác hẳn với nhị thừa. Ở đây khen ngợi 1250 vị, ai nấy đều không còn rơi lọt trong sanh tử, nên gọi là vô lậu.
Lậu có ba loại:
- Dục lậu: phiền não của Dục giới.
- Hữu lậu: phiền não của hai cõi trên, Sắc giới và Vô sắc giới.
- Vô minh lậu: vô minh của cả ba cõi.
Có nhân sanh tử là ba thứ lậu này, chắc chắn sẽ rơi lọt trong ba cõi, chịu quả báo luân hồi.
Nay vế sau nói “đại A-la-hán”, nên cái vô minh lậu hẳn phải gồm vô minh ngoài ba cõi. Chính Mạch nói: “Vô lậu của nhị thừa chỉ vượt được ba hữu (tức ba cõi). Vô lậu của Bồ-tát mới vượt khỏi ba không.”
“Đại A-la-hán” là quả của đại Tỳ-kheo ở trước. Cũng hàm ba nghĩa: ứng cúng, sát tặc, vô sanh. Với đã gọi là “đại A-la-hán”, thì ba nghĩa ấy cũng khác với Tiểu thừa:
- Ứng cúng (xứng đáng được cúng dường) của Tiểu thừa chỉ giới hạn trong cõi trời, cõi người. Còn đại A-la-hán thì thông cả thế gian và xuất thế gian.
- Sát tặc của Tiểu thừa chỉ diệt giặc kiến – tư hoặc, phiền não trong ba cõi. Còn đại A-la-hán thì diệt luôn một phần vô minh ngoài ba cõi.
- Vô sanh của Tiểu thừa chỉ ra khỏi phần đoạn sanh tử trong ba cõi. Còn với đại A-la-hán thì biến dịch sanh tử cũng sắp hết.
Lại nữa, Tiểu thừa thủ chứng lệch bên chân, chìm nơi không, kẹt chỗ tịch, không chịu hồi tâm hướng Đại, gọi là A-la-hán định tánh. Còn các vị đại A-la-hán này, dấu tích hiện tại bên ngoài tuy giống nhị thừa, nhưng cái gốc sâu xa bên trong thật ra là Bồ-tát. Trong ẩn hạnh Bồ-tát, ngoài hiện thân Thanh văn, trợ giúp hoằng dương Phật đạo. Vì thế, các lời tán thán đức đều là xét theo bản địa mà khen.
Phật tử trụ trì, khéo vượt ba cõi, có thể ở trong quốc độ mà thành tựu oai nghi.
Từ đây trở xuống là khen ngợi đức hạnh của các vị ấy khác xa với nhị thừa, hiển nhiên là phong thái của Bồ-tát. Nguyên câu này khen ngợi thể đức tự lợi.
“Phật tử” nghĩa là con Phật. Không phải chỉ La-hầu-la, mà chỉ các vị “trong ẩn hạnh, ngoài hiện thân”, xứng đáng gọi là Phật tử. Tức chỗ kinh Pháp Hoa nói: “Từ miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh (nên có nghĩa ‘con’), được phần pháp của Phật, có thể nối dõi dòng giống Phật”.
“Trụ trì” có hai cách giải thích:
- Trụ ở nhà Pháp vương, trì giữ tạng bí mật.
- Trụ nơi Thủ-lăng-nghiêm tam-muội, trì giữ hạnh tu chứng đúng như thật.
Các vị bất biến mà tùy duyên, thị hiện vào sanh tử, không giống hàng định tánh; tùy duyên mà bất biến, không nhiễm trước trần lao, khác xa với phàm phu.
Hai vế kế tiếp là xứng tánh khởi dụng.
Khéo vượt: Không giống nhị thừa, đoạn sạch kiến – tư, thân trí như tro tàn, vượt khỏi ba cõi rồi không dám trở vào nữa. Như vậy tuy là vượt thoát, nhưng không phải khéo vượt. Còn các vị đại A-la-hán này, không rời trần lao mà làm được Phật sự, ngay nơi tam giới mà siêu vượt 25 cõi hiện hữu, không bị duyên sanh trong các hữu trói buộc, đến đi tự tại, nên gọi là khéo vượt.
Có thể ở trong quốc độ mà thành tựu oai nghi: Nối tiếp ý trước, vì “khéo vượt” nên đây mới “có thể”.
Không giống tiểu Thánh thông thường—nhập diệt tận định, thân như cây khô, tâm như tro lạnh, còn không có khả năng vận dụng, huống chi có việc oai nghi? Các vị đây trụ trong đại định Lăng-nghiêm, từ thể khởi dụng. Nên có thể ở trong trần lao, nơi quốc độ đồng cư, mà không thiếu sót ba nghiệp, không nhiễm ô sáu trần, có uy khiến người kính sợ, có nghi khiến người noi theo. Chỗ gọi là: ngay nơi định mà động, ở trong động mà định. Đây là khen ngợi định đức.
Theo Phật chuyển pháp luân, kham lãnh lời di chúc. Nghiêm tịnh tỳ-ni, đáng bậc khuôn mẫu. Ứng thân vô lượng, độ thoát chúng sanh, tận đời vị lai, vượt khỏi trần lụy.
Ba câu này khen ngợi đức dụng lợi tha.
Theo Phật chuyển pháp luân: Không phải chỉ theo hầu bên cạnh Phật, cầm khăn, bưng bình; mà còn nương theo đường lối của Phật, trợ giúp chuyển pháp luân.
Sở dĩ pháp gọi là luân (bánh xe) vì bánh xe có công năng nghiền nát những thứ nó đi qua. Ví cho bánh xe Phật pháp có thể nghiền nát phiền não thô – tế của chúng sanh. Thêm nữa, bánh xe có nghĩa vận chuyển. Ví cho Phật pháp có thể chuyên chở chúng sanh mau ra khỏi đường tối, thẳng đến địa vị giác ngộ.
Kham lãnh lời di chúc: Vì trí tuệ sâu mầu, có thể thay Phật chuyển pháp luân, trợ giúp hoằng dương giáo hóa; nên đủ sức tiếp nhận di mệnh phó chúc của Như Lai, gánh vác sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Không như Thanh văn chỉ biết hướng về cảnh Niết-bàn tịch lặng, trí – bi đều kém, như người già yếu ở thế gian, không thể nhận lời giao phó.
Câu đầu này khen ngợi tuệ đức.
Nghiêm tịnh tỳ-ni: Tỳ-ni là tên gọi chung của giới luật. Hán dịch là thiện trị (tức khéo đối trị, điều phục). Nghiêm là trị thân khẩu, tịnh là trị tâm ý.
Nghiêm nghĩa là nghiêm mật—chặt chẽ, cẩn thận tối đa. Không chỉ giới lớn phải giữ, mà giới nhỏ cũng không được phạm. Như đốm lửa nhỏ cũng có thể thiêu cháy núi Tu-di.
Tịnh nghĩa là thanh tịnh. Nếu chỉ có thể đoạn các điều ác, mà chưa quên cái tâm “ta trừ ác” thì chưa đủ gọi là tịnh. Phải đến mức “tánh đoạn cũng không”, không còn thấy mình trừ ác nữa, thì mới thật là tâm thanh tịnh.
Như vậy, đối trên sự việc thì giới nghiêm, đối với đạo tâm thì giới tịnh.
Lại nữa, nghiêm là dứt các điều ác, tức nhiếp luật nghi giới; tịnh là làm các pháp lành, tức nhiếp thiện pháp giới.
Đáng bậc khuôn mẫu: Kinh Niết-bàn nói: “Giới là đại sư của các ông”. Thêm nữa, trì giới thanh tịnh, tự hành – hóa tha, thì có thể làm người thầy lớn cho trời người trong ba cõi. Đó là nhiêu ích hữu tình giới.
Ba tụ không sót, ba học đầy đủ. Câu này khen ngợi giới đức.
“Ba tụ” là nói tắt của “tam tụ tịnh giới”, tức ba nhóm giới thanh tịnh: nhiếp luật nghi, nhiếp thiện pháp, nhiêu ích hữu tình.
Câu “Ứng thân vô lượng, độ thoát chúng sanh,…” chính muốn nói rõ, ba học ở trên không chỉ để tự độ, mà thật vì rộng độ tất cả chúng sanh.
Vì chúng sanh vô số giống loài, căn cơ sai khác. Nên nếu muốn độ thoát họ thì số thân ứng hiện cũng phải vô lượng. Như Quán Thế Âm Bồ-tát, hợp với bản diệu giác tâm của mười phương Phật, cùng một từ lực với chư Phật Như Lai; nên tùy loài hiện thân, cần dùng thân nào để độ thì hiện thân ấy, cần dùng pháp nào để độ thì nói pháp ấy. Rộng độ chúng sanh thoát khỏi sông ái, vượt đến bờ bên kia. Ấy chính là phổ hiện sắc thân tam-muội của đại Bồ-tát: một thân không chia mà hiện khắp, ứng mọi căn cơ không sót, diệu lực vô tác tự tại thành tựu.
Hai vế này khen ngợi từ đức.
“Tận đời vị lai, vượt khỏi trần lụy”, nghĩa là không chỉ trong hiện tại phân thân khắp vi trần cõi, độ thoát chúng sanh, mà cho đến tận đời vị lai, đều dùng ba học để cứu vớt khỏi các thứ khổ lụy trần lao.
Chúng sanh bị sa vào bùn nhơ phiền não của kiến ái, thì các ngài kéo lên, đặt vào đường Bồ-đề chân chính. Chúng sanh bị kẹt ở bờ này của phần đoạn sanh tử, thì các ngài cứu giúp, khiến qua bờ kia của Niết-bàn. Khi ấy họ vượt khỏi sự khổ lụy, trói buộc của trần lao, ra khỏi lao ngục ba cõi năm ấm. Bên trong thoát thân tâm, bên ngoài rời thế giới, được đại giải thoát.
Đây là khen ngợi bi đức.
Kỷ ba – Liệt kê tên các vị thượng thủ
Đại trí Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Câu-hy-la, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử, Tu-bồ-đề, Ưu-ba-ni-sa-đà, v.v. làm thượng thủ.
Trong chúng tùy tùng thường theo Phật, đây liệt kê tên sáu vị thượng thủ.
Phạn ngữ “Xá-lợi-phất”, dịch là Thu Tử. Thu (xá-lợi) tức thu lộ, tên một loài chim nước. Vì mắt mẹ ngài sáng bén như mắt loài chim ấy, nên lấy làm tên. Còn “tử” (phất) nghĩa là con. Tâm Kinh dịch tên ngài là Xá-lợi tử, nghĩa là người con do bà Xá-lợi sanh ra.
Khi còn trong thai, ngài đã có thể nương nơi miệng mẹ mà biện luận. Đến bảy tuổi đã tranh biện thắng các luận sư. Xét bản địa sâu xa, ngài đã chứng làm Phật Kim Long, nhưng vì lòng từ bi mà “quay thuyền trở lại” làm thân Thanh văn, trợ giúp hoằng dương giáo pháp.
Kinh A-hàm nói: “Trong pháp của ta, người trí tuệ khôn cùng, quyết đoán rõ ràng các điều nghi, Xá-lợi-phất là bậc nhất.” Vì thế xưng ngài là đại trí.
Ma-ha Mục-kiền-liên: Ma-ha nghĩa là lớn. Mục-kiền-liên là dòng họ Thái Thục (hái đậu). Tổ tiên dòng họ này vào núi tu đạo, hái đậu mà ăn, nên lấy đó đặt tên cho dòng tộc.
Trong dòng họ này có nhiều người theo Phật xuất gia, nên thêm “Ma-ha” vào để phân biệt. Tên của ngài vốn là Câu-luật-đà, dịch là cây không có đốt. Cha mẹ không con, cầu nơi cây ấy mà sanh ra ngài, lên lấy làm tên.
Kinh A-hàm nói: “Trong pháp của ta, người thần thông nhẹ nhàng, cất mình bay khắp mười phương, Mục-kiền-liên là bậc nhất.”
Ma-ha Câu-hy-la, Hán dịch Đại Tất, là cậu của Xá-lợi-phất.
Thường ngày, ngài cùng chị mình biện luận thì vẫn luôn thắng. Nhưng từ khi chị mang thai, ngài tranh không bằng chị nữa. Bèn biết đứa trẻ trong thai ắt là bậc trí, nương nơi miệng mẹ mà tranh biện. Tự nghĩ: “Nếu cháu ra đời, làm cậu mà biện luận không bằng cháu, chẳng phải rất hổ thẹn ư?” Thế là ngài phẫn chí, sang Nam Thiên Trúc học mười tám bộ kinh, bốn bộ Vệ-đà. Đến nỗi không có thời gian cắt móng tay, nên người đời gọi ngài là Trường Trảo Phạm chí (vị Phạm chí móng tay dài).
Học xong trở về nước, muốn cùng cháu tranh biện. Người chị nói: “Cháu đã theo Phật xuất gia rồi.” Ngài bèn đến chỗ Phật đòi cháu. Phật bảo cùng tranh biện, nếu thắng sẽ trả cháu lại cho.
Ngài mừng thầm, nghĩ rằng với sở học bấy lâu, hôm nay chính là lúc thể hiện bản lĩnh. Nhưng vì tâm tự phụ quá mạnh, lại giao ước với Phật: “Nếu tôi luận thua, xin tự chém đầu.”
Phật bèn hỏi: “Ông lấy gì làm tông chỉ?”
Ngài đáp: “Tôi lấy ‘không thọ hết thảy pháp’ làm tông.”
Phật hỏi: “Vậy ông có thọ cái kiến giải ấy không?”
Ngài tự nghĩ: “Nếu thọ kiến giải ấy thì trái với tông chỉ của mình (vì tông của ngài là ‘không thọ’). Nhưng nếu không thọ thì tông của mình tự sụp đổ (vì tông chỉ của mình mà không thọ thì lẽ ra không nên lập tông).”
Hai đầu đều lỗi, lý cùng lời cạn, ngài liền bỏ chạy. Chạy được nửa đường, ngài lại nghĩ: “Đại trượng phu một lời đã nói ra thì phải biết giữ lấy.” Bèn quay trở lại chỗ Phật, nói: “Xin mang đao đến chém đầu tôi đi.” Phật bảo: “Pháp của tôi không có việc như vậy.” Ngài liền hướng Phật tạ tội, xin được độ cho xuất gia.
Kinh A-hàm nói: “Trong pháp của ta, người được bốn thứ biện tài, hễ hỏi đến là có thể đáp, Câu-hy-la là bậc nhất.”
Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử: Phú-lâu-na là tên cha, nghĩa là mãn nguyện. Di-đa-la-ni là tên mẹ, nghĩa là từ nữ. Ngài lấy tên cha và mẹ làm tên, gọi tắt là Mãn Từ tử.
Vì chữ Hán rườm rà nhiều nét, bớt được chữ nào hay chữ ấy, nên ngày xưa thường viết tắt là “Mãn Từ” (hoặc Mãn Từ tử/Mãn Nguyện tử/Từ tử/Phú-lâu-na) để thay thế “Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử”. Mình dùng nhất quán một tên “Phú-lâu-na” cho đỡ rối, lại gần với văn kinh.
Kinh A-hàm nói: “Trong pháp của ta, người khéo diễn nói rộng, phân biệt các nghĩa lý, Phú-lâu-na là bậc nhất.”
“Tu-bồ-đề”, Hán dịch là Không Sanh. Vì khi ngài sanh ra, kho tàng tài bảo trong nhà bỗng trống không, nên lấy đó đặt tên. Không lâu sau, tài bảo trong nhà hiện trở lại, nên còn có tên Thiện Hiện. Cha ngài đi xem quẻ, quẻ bói vừa tốt vừa lành, nên lại có tên Thiện Cát.
Ngài thường tu “tam-muội không tranh”. Kiếp quá khứ đã chứng làm Phật Thanh Long, bản địa sâu xa khó nghĩ bàn. Trong hàng đệ tử Phật, ngài là bậc “giải không đệ nhất”.
Ưu-ba-ni-sa-đà, Hán dịch là Trần Tánh. Vì ngài quán tánh của trần là không mà được đạo quả. Trong kinh này, khi trình bày pháp viên thông, ngài nói: “Con quán tướng bất tịnh, sanh lòng chán ghét cực độ. Ngộ được tánh của các sắc, từ bất tịnh, xương trắng, vi trần, rốt đều tan về không. Không và sắc đều không, thành đạo vô học. Như Lai ấn chứng cho con tên là Ni-sa-đà.”
Ngoài ra còn có các vị khác không thể liệt kê hết, nên để “vân vân”. “Làm thượng thủ” nghĩa là làm thượng tọa thủ lĩnh, đứng đầu trong chúng.
“Mậu một – Chúng Thanh văn” hết.
