CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 13

Liệt kê thính chúng – Chúng Duyên giác & Bồ-tát

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Mậu hai – Chúng Duyên giác

Lại có vô số Bích-chi vô học, đệ tử sơ tâm, cùng đến chỗ Phật. Gặp dịp mãn hạ, nhập chúng Tỳ-kheo, cùng dự tự tứ.

“Bích-chi”, Phạn ngữ đầy đủ là Bích-chi-ca-la. Gồm hai nghĩa nên không dịch, một là Duyên giác, hai là Độc giác:

  • Ra đời lúc có Phật, vâng theo giáo pháp “mười hai nhân duyên” do Phật dạy, đoạn duyên, chứng chân, thì gọi là Duyên giác.
  • Ra đời khi không có Phật, ưa sống một mình nơi vắng lặng, cầu trí tuệ tự nhiên, quán xét muôn vật biến hóa, giác ngộ lý vô sanh, thì gọi là Độc giác.

Lúc ấy Phật Thích-ca còn tại thế, lẽ ra chỉ có Duyên giác. Nhưng vì đây là hội chúng nhóm họp từ ngoài đến, nên có thể là Độc giác ở phương khác. Ngài Từ Ân nói: “Khi đức Thích Tôn ra đời, năm trăm Độc giác từ trong núi đi đến.” Các vị này ra đời lúc không có Phật, nhưng trụ lại thế gian để chờ Phật.

Vô học: quả vị viên mãn, thủ chứng Niết-bàn, xét trong ba cõi thì có thể xưng “không cần học nữa”.

Đệ tử sơ tâm: “Sơ tâm” tức là mới phát tâm tu. Hoặc nương phép quán nhân duyên, nghiền ngẫm chân lý, đoạn trừ mê lầm phiền não. Hoặc ở riêng nơi vắng lặng, quán muôn vật biến hóa, cầu ngộ lý vô sanh. Đều là những người hữu học vậy.

Thầy đi đâu thì đệ tử theo đến đấy. Thầy trò đạo hợp, chung chí hướng, cùng đến chỗ Phật Thích-ca.

Câu “Gặp dịp mãn hạ…” thể hiện cái ý từ ngoài đến của chúng thầy trò Bích-chi. Tức đây là chúng từ các nơi nhóm họp kéo đến, không giống với chúng Tỳ-kheo thường theo Phật ở trước. Đến chỗ Phật vừa lúc mãn hạ, nên nhập chung vào với chúng Tỳ-kheo ở đó, cùng tham dự pháp tự tứ.

“Mãn hạ” nghĩa là dừng nghỉ, kết thúc mùa hạ. Phật chế định các Tỳ-kheo kết hạ an cư, ba tháng cấm túc hạn chế đi lại. Một là để ở yên một chỗ, chuyên tâm tu đạo. Hai là để hộ chúng sanh và tránh sự hiềm nghi.

Khi kỳ hạn ba tháng đã mãn, kết hạ dừng lại, gọi là giải hạ hoặc giải chế. Phật chế định ngày mười lăm tháng Bảy là ngày giải chế, xét lại đức hạnh và đạo nghiệp trong ba tháng, rồi làm pháp tự tứ. Ngài Cô Sơn nói: “Theo luật, tự tứ được mở trong ba ngày: mười bốn, mười lăm, mười sáu tháng Bảy.”

Tự tứ: Tự biết lỗi mình thì tự trình bày. Nếu tự mình không biết lỗi, thì tùy ý để Tăng chúng nêu ra, tức để các vị khác kiểm lỗi cho mình.

Đối trước đại chúng, người ấy bạch rằng: “Kính bạch các vị Đại đức trưởng lão! Hoặc thấy lỗi của con, hoặc nghe lỗi của con, hoặc nghi con phạm lỗi, xin tùy ý nêu ra, thương xót chỉ bảo con, con xin được sám hối.”

Việc tự tứ này để phòng ngừa tì vết làm ô nhiễm đại chúng thanh tịnh.

Kinh này tuy là giáo pháp Đại thừa liễu nghĩa, nhưng Bích-chi và sơ tâm đều thuộc chúng đương cơ. Về sau kinh nói: “Bấy giờ, Thế Tôn thương xót hàng Duyên giác Thanh văn trong hội, đối với tâm Bồ-đề chưa được tự tại… mà khai mở đường tu thần diệu vô thượng thừa”. Lại nói: “Khiến hàng hữu học biết cách nhiếp phục tâm phan duyên, được đà-la-ni, vào tri kiến Phật.” Đều là muốn khiến họ hồi tâm Tiểu thừa, hướng về Đại thừa vậy.

Mậu ba – Chúng Bồ-tát

Kỷ một – Chúng tự tứ đến trước

Bồ-tát từ mười phương mong dứt trừ tâm nghi, kính vâng đức từ nghiêm, sắp cầu nghĩa thâm mật.

Lúc tự tứ, không riêng gì chúng Bích-chi, chúng Bồ-tát từ mười phương cũng đến dự hội.

“Bồ-tát” đã giải thích ở nhan đề. “Tâm nghi” là mối nghi ngờ trong tâm. Các Bồ-tát đối với luật nghi Đại thừa, chưa thể thông suốt hết các điều nghi lự trong tâm, nên nhân lúc mãn hạ mà đến thưa hỏi, cầu Phật phân giải. Câu “Gặp dịp mãn hạ, nhập chúng Tỳ-kheo…” có thể nối xuyên suốt xuống đây—đều là chúng từ các nơi nhóm họp đến, cùng dự vào pháp hội.

Kính vâng đức từ nghiêm, sắp cầu nghĩa thâm mật: Thưa hỏi quyết nghi là một việc, còn cầu nghĩa thâm mật đây là việc khác.

“Kính vâng”, tức kính cẩn vâng nhận, phụng sự không trái. Đây biểu thị tâm của Bồ-tát.

“Từ nghiêm”, tức từ bi nghiêm túc, ân – uy đều hiển. Đây biểu dương đức của Như Lai.

“Sắp cầu”, tức muốn cầu mà chưa cầu, còn giữ ở trong tâm, chưa lên tiếng thưa hỏi.

“Nghĩa thâm mật” có hai cách giải thích:

  • Một là nghĩa bí mật sâu kín: Bồ-tát chí tại Bồ-đề, chỗ thỉnh cầu tự nhiên là nghĩa lý sâu xa, nên gọi là nghĩa thâm mật. Nói “sắp cầu” vì đợi xong việc dứt trừ tâm nghi rồi mới thưa thỉnh.
  • Hai là mật nhân liễu nghĩa: Sự ngộ và tu lấy đó làm gốc, nên không thể không cầu. Nói “sắp cầu” chính vì trong tâm có điều chờ đợi, mong được nghe pháp yếu.

Các Bồ-tát này là mật cơ, cũng thuộc chúng phát khởi của Lăng-nghiêm. Trong kinh, Như Lai soi cơ thí giáo, nhân việc A-nan gặp nạn mà nói mật nhân và pháp tu chứng liễu nghĩa. Đó đồng thời thầm ứng với điều các Bồ-tát mong cầu. Thế mới thấy sự mầu nhiệm của cảm ứng đạo giao vậy.

Khi ấy, Như Lai trải tòa an nhiên, vì pháp hội mà tuyên bày nghĩa ẩn sâu. Đại chúng thanh tịnh, được điều chưa từng có.

Chỗ này có hai cách giải thích.

Một là giải thích theo pháp hội tự tứ:

“Khi ấy” tức là lúc tự tứ. Như Lai ứng đúng thời điểm, tự trải tọa cụ Ni-sư-đàn làm chỗ ngồi, an trú điềm nhiên. Vì đại chúng trong pháp hội—gồm chúng thường tùy tòng và chúng nhóm họp đến—mà làm pháp yết-ma tự tứ, để trừ bỏ tội lỗi và tâm nghi của ba thừa Hiền Thánh. Ấy gọi là “tỏ bày nghĩa ẩn sâu”.

Đại chúng nơi pháp tòa, ba nghiệp không thiếu sót, sáu trần không nhiễm ô, lỗi lầm đã trừ bỏ, tâm nghi đã giải quyết, nên đây nói “thanh tịnh”. Ai nấy đều hoan hỷ, được điều chưa từng có.

Hai là giải thích theo việc cầu nghĩa thâm mật:

“Khi ấy” tức là lúc trong chúng có những vị khởi ý thầm thỉnh cầu. Như Lai ứng cơ thí giáo, trải tòa an nhiên, vì hàng mật cơ trong chúng mà tuyên bày nghĩa lý sâu xa. Văn kinh không nói việc này, nhưng như trước khi nói kinh Pháp Hoa, Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam-muội mà thuyết kinh Vô Lượng Nghĩa. Pháp Hoa cũng không đề cập việc đó, nên có thể liên hệ qua đây mà suy.

Kỷ hai – Chúng nghe âm đến sau

Tiên âm ca-lăng vang khắp mười phương. Hằng sa Bồ-tát tụ họp đạo tràng, Văn-thù-sư-lợi làm thượng thủ.

“Ca-lăng” là tên một loài chim, nói đủ là ca-lăng-tần-già, Hán dịch diệu thanh, còn gọi là tiên âm.

Loài chim này khi còn trong trứng đã phát ra âm thanh vượt hơn các loài chim khác. Tiếng hót hòa nhã khiến người nghe vui thích. Có nơi nói ca-lăng-tần-già là loài chim tiên, âm thanh của nó chẳng phải là thứ các loài chim khác có thể sánh kịp.

Pháp âm của Như Lai vi diệu, vượt hơn hết thảy các loại âm thanh, nên lấy tiếng chim này để ví. Hơn nữa, Phật còn có tên hiệu Đại giác Kim tiên, nên đây ghi “tiên âm”.

Vang khắp mười phương: Âm thanh của Phật xứng tánh mà trùm khắp, chỉ cần hữu duyên thì đều có thể nghe được. Nay vì muốn triệu tập các bậc Thánh, nên âm thanh nơi pháp hội vang khắp mười phương thế giới.

Kinh Bảo Tích nói:

“Mục-kiền-liên muốn dò thử âm thanh của Phật, bèn dùng thần thông bay về phương Tây, vượt qua Hằng hà sa quốc độ mà nghe âm vẫn như ở gần. Đến một cõi Phật nọ, báo thân Phật ấy rất to lớn, cái vành bình bát rộng như một con đường. Mục-kiền-liên chống tích trượng đi trên đó.

Các đệ tử cõi ấy thấy vậy, hỏi Phật: ‘Vì sao con trùng này lại có đầu người?’ Phật bảo: ‘Đây là Mục-kiền-liên, đệ tử lớn của Phật Thích-ca Mâu-ni ở thế giới Ta-bà, thần thông đệ nhất, chớ nên xem thường.’

Phật hỏi Mục-kiền-liên: ‘Vì sao ông đến đây?’

Ngài đáp: ‘Con muốn dò âm thanh của Phật đến chỗ tận cùng.’

Phật ấy bảo: ‘Âm thanh của Phật vô tận, không phải thứ ông có thể dò được.’

Mục-kiền-liên nghe rồi, liền trở về nước mình.”

Hằng hà sa Bồ-tát tụ họp đến đạo tràng:

“Hằng” tức sông Hằng, Phạn ngữ là Căng-già (Gaṅgā), Hán dịch thiên đường lai (từ thiên đường đến). Sông Hằng bắt nguồn từ đỉnh núi Tuyết, ao A-nậu-đạt. Người ta hình dung nơi ấy rất cao, nên gọi là “thiên đường lai”. Sông rộng 40 dặm, cát nhỏ mịn như bột. Dùng số cát của nó để ví số lượng Bồ-tát rất nhiều.

Bồ-tát tâm nghe thông đạt, nên có thể nghe âm thanh từ xa mà tụ họp đến. “Đạo tràng” đây là nơi tự tứ, tức tinh xá Kỳ-hoàn.

“Văn-thù-sư-lợi”, còn gọi là Mạn-thù-thất-lợi. Dịch nghĩa là diệu đức, vì đức của ngài vi diệu, từng làm thầy của bảy vị Phật. Còn dịch là diệu cát tường, vì khi ngài giáng sanh có mười thứ tướng lành tốt đẹp. Lại còn gọi là diệu thủ, vì trí đức thâm diệu, thường đứng đầu trong chúng.

Trong Hoa Nghiêm, ngài biểu thị căn bản trí. Còn trong kinh này, ngài là con mắt trạch pháp. Xét bản địa sâu xa, ngài là Long Chủng Tôn Vương Như Lai trong quá khứ. Hiện tại ở phương Bắc là Hoan Hỷ Ma-ni Bảo Tích Như Lai. Vị lai thành Phật, hiệu là Phổ Hiện. Vì muốn âm thầm trợ giúp giáo hóa cõi này, ngài thị hiện ở địa vị tu nhân (Bồ-tát), làm thượng thủ trong đại chúng.

Phổ Hiện: Kinh Đại Bảo Tích ghi là Phổ Kiến, giải thích “vì Như Lai ấy khiến chúng sanh trong vô lượng cõi Phật mười phương đều được thấy”. Nhưng tên Phổ Hiện cũng đồng thời được lưu hành.

Các bậc Thánh không sống trong cảnh thời gian tuyến tính như chúng ta. Đoạn này ý nói, xét bản địa sâu xa trong quá khứ, ngài Văn-thù đã là Phật. Hiện tại ở phương Bắc cũng đang là Phật. Còn với cõi chúng ta, ngài thị hiện là Bồ-tát, tương lai cũng sẽ thành Phật, hiệu là Phổ Kiến.

Hỏi: Thính chúng của các kinh đều có tám bộ chúng, vì sao kinh này không liệt kê?

Đáp: Phần tựa của các kinh đều có chỗ không đồng, có kinh liệt kê, có kinh không liệt kê. Phần tựa của kinh này phát khởi lúc tự tứ—xét lại đức hạnh và đạo nghiệp trong ba tháng an cư—toàn thuộc về Tăng sự của ba thừa, vì vậy không liệt kê.

“Bính một – Tựa chứng tín” hết.

Văn kinh Việt dịch

Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *