CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 14

Tựa phát khởi

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Bính hai – Tựa phát khởi

Kinh này lấy việc “A-nan đọa vào dâm thất” làm đầu mối phát khởi. Nhưng nên biết, trong quá khứ A-nan đã cùng với Phật Thích-ca phát tâm ở cõi Phật Không Vương. Bản địa của ngài cũng sâu như các vị thượng thủ ở trước, chẳng phải thật ở ngôi hữu học. Việc lầm đọa vào phòng dâm chỉ là bậc đại quyền thị hiện muốn dẫn phát đại giáo mà thôi.

Hơn nữa, kinh này muốn nêu rõ: nếu ỷ vào đa văn mà không siêng tu định lực, thì không thể chống lại tà chú, nên mới bị nhiếp vào phòng dâm. Chính để khuyên người đa văn phải nỗ lực nơi đại định vậy!

Nhưng vì sao nhất định phải là A-nan thị hiện gặp nạn? Có hai ý:

  • Vì ngài tuy đa văn đệ nhất nhưng vẫn không đủ sức thắng tà. Thế thì biết không thể chỉ nương nhờ lực học, nhất định phải đủ văn – tư – tu.
  • Vì ngay cả là em của Phật, việc tu hành cũng không thể cậy Phật thay thế. Thế thì biết không thể dựa dẫm ai, nhất định phải tự mình tu lấy.

Tuy biết căn bản sâu xa của A-nan, nhưng đến văn dưới vẫn cứ theo dấu tích thị hiện mà phát huy ý nghĩa. Như vậy mới có thể kích động và dẫn dắt những người phàm phu và Tiểu thừa.

Nói chung, người ở địa vị sâu mà thị hiện ở ngôi cạn, thì nhất định tường tận tình trạng và tâm tư của ngôi cạn ấy. Như những chỗ A-nan chấp mê, biện luận sai lầm, cảm ngộ rồi rơi lệ, đều là để diễn tả hết tâm tư, khúc mắc của những người thật ở địa vị phàm phu – Tiểu thừa. Khiến họ được ngộ hiểu thông suốt mà sanh tâm vui mừng. Vì thế từ đây không cần nói hộ cho ngài A-nan nữa.

Đinh một – Vua tôi thiết cúng

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc nhân ngày húy kỵ phụ vương, thỉnh Phật vào cung, thiết trai cúng dường. Đích thân nghênh đón Như Lai, bày rộng các món ngon quý, mùi vị nhiệm mầu thượng hạng. Lại còn tự mình nghênh thỉnh chư đại Bồ-tát.

Từ đây là phần tựa phát khởi, nói về nhân duyên phát khởi kinh này. Do không giống với các kinh khác, nên còn gọi là tựa riêng, chỉ riêng kinh này có.

Còn sáu thứ thành tựu thì kinh nào cũng có, gọi là tựa chung.

“Bấy giờ” là lúc chúng Tăng tự tứ, là ngày chư Phật hoan hỷ. Vào ngày này mà cúng Phật, trai Tăng thì công đức thù thắng gấp bội. Kinh Vu-lan-bồn, Phật bảo Mục-kiền-liên nhằm ngày Tự tứ mà thiết trai Tăng để cứu độ thân linh. Nên vua Ba-tư-tặc và quần thần đều hoan hỷ thiết cúng vào ngày này.

“Ba-tư-nặc” nghĩa là nguyệt quang. Ông sanh cùng ngày với Phật. Lúc đó, phụ vương của ông thấy các thứ ánh sáng, không biết đó là điềm lành do Phật đản sanh, bèn cho rằng do phước lực của thái tử mà hiện, nên đặt tên là Nguyệt Quang.

Có nơi nói, phụ vương theo điềm lành mà đặt tên là Thắng Quang (ánh sáng thù thắng). Còn Nguyệt Quang là tên do dân trong nước gọi. Do sanh cùng ngày với Phật, mà Phật đã có hiệu là Nhật Quang, nên gọi vua là Nguyệt Quang.

Vua còn có tên Thắng Quân, vì quân đội của vua rất mạnh, các nước khác không thể địch nổi.

Vào thời Phật Long Quang trong quá khứ, vua đã chứng ngôi Bồ-tát Tứ địa. Còn đức Thích-ca khi ấy ở ngôi Bát địa. Nay đức Thích-ca thành Phật, còn vua là bậc đại quyền thị hiện—bên trong ẩn hạnh Bồ-tát, bên ngoài hiện thân quốc vương, trợ giúp hoằng dương giáo hóa.

Nhân ngày húy kỵ phụ vương: Ngày thân nhân qua đời, dân gian gọi là ngày húy kỵ. Người làm con vào ngày ấy thường kiêng tránh, không dám nhắc thẳng đến. Vì hễ nhắc đến là đau xót.

Theo thế gian, mỗi năm đến ngày này, y phục và thức ăn đều phải thay đổi, để biểu thị nỗi buồn như thuở ban đầu. Còn nội giáo dạy vào ngày này tu thiện – thiết trai, để giúp thêm phần phước cho cõi u minh. Nay ngày giỗ phụ vương của vua Ba-tư-nặc vừa đúng kỳ Tự tứ, nên vua thiết trai thỉnh Phật vào cung, cầu phước cho hương linh phụ vương.

Xét trong văn, vua Ba-tư-nặc thỉnh Phật có đủ sáu ý kính trọng:

  • Nơi chốn thì nội cung
  • Nghênh đón thì đích thân
  • Bày biện thì rộng rãi
  • Thức ăn thì ngon quý
  • Mùi vị thì nhiệm mầu
  • Với người đi cùng (chư đại Bồ-tát), cũng tự mình nghênh thỉnh

Có thể nói sự cung kính đã đạt mức tột cùng vậy.

Trong thành còn có trưởng giả cư sĩ, đồng thời thiết trai, chờ Phật đến ứng.

Trong thành Thất-la-phiệt còn có thêm các trưởng giả, cư sĩ từng được Phật giáo hóa. Nên họ cũng đồng thời thiết trai Tăng. Vì vào ngày Tự tứ mà làm phước thì công đức thù thắng.

“Trưởng giả” không chỉ là người tuổi cao, mà còn phải đủ mười đức:

  • Dòng họ tôn quý
  • Ở địa vị cao
  • Phước lực dồi dào
  • Quyền uy mạnh mẽ
  • Trí tuệ cao thâm
  • Tuổi tác cao niên
  • Đức hạnh thanh tịnh
  • Lễ nghi đầy đủ
  • Bậc trên khen ngợi
  • Người dưới quy kính

“Cư sĩ” là người ở nhà mà giữ đạo. Thân nơi trần lao, tâm thường thanh tịnh. Có loại vừa có đức vừa có địa vị, như cư sĩ Tô Đông Pha. Có loại có đức nhưng không có địa vị, như cư sĩ Bàng Uẩn.

“Chờ Phật đến ứng” có hai cách giải:

  • Các trưởng giả, cư sĩ không biết Phật đã nhận lời thỉnh của quốc vương, nên vẫn trông chờ Phật đến ứng cúng.
  • Hoặc đã biết Phật nhận lời vào cung, nên trông đợi Phật cử các Bồ-tát và Thánh chúng tới ứng cúng.

Đinh hai – Phật Tăng ứng thỉnh

Phật sai Văn-thù, phân chia Bồ-tát cùng A-la-hán, đến ứng trai chủ.

Phật và chúng Tăng chia nhau đến các nơi để ứng cúng cho các trai chủ. Phật lệnh cho Bồ-tát Văn-thù phân phái, vì ngài là bậc thượng thủ trong chúng, chư Bồ-tát và A-la-hán đều có thể tin phục và nghe theo.

Đinh ba – A-nan gặp nạn

Mậu một – Nguyên do lâm nạn

Duy có A-nan trước đó nhận lời thỉnh riêng, đi xa chưa về, không kịp dự vào chúng Tăng ứng cúng. Không có thượng tọa hay a-xà-lê, một mình trở về.

Từ đây trở xuống thuật lại nguyên do lâm nạn, gồm bốn đầu mối.

Một, nhận lời thỉnh riêng chưa về.

“Duy có”, tức chỉ riêng một mình A-nan, trước kỳ Tự tứ đã nhận lời thỉnh riêng, đi xa chưa về.

“A-nan”, nói đủ là A-nan-đà (Ānanda), nghĩa là khánh hỷ. Ngài là em họ của Phật, con vua Bạch Phạn. Ngài ra đời vào ngày Phật thành đạo. Vua Tịnh Phạn nghe tin thái tử thành đạo, đó là một chuyện vui. Vua Bạch Phạn nhập cung, báo tin sanh được con trai, thỉnh vua ban tên, lại thêm một tin vui nữa. Vì vậy ban cho tên Khánh Hỷ.

“Thỉnh riêng”, tức được thỉnh đi vì một duyên sự riêng biệt, như sám tội, bố thí,… Đến ngày Tự tứ, lẽ ra nên sớm trở về.

“Đi xa chưa về”, tức là nơi thỉnh ở xa, không thể về sớm. Vì thế không kịp dự vào hàng Tăng chúng được phân chia đến các nơi ứng cúng, dẫn đến việc lâm nạn sau đó.

Hai, không có người đi cùng, một mình trở về.

“Thượng tọa” có bốn loại:

  • Thượng tọa sanh niên, vì có tuổi đời cao.
  • Thượng tọa giới lạp, vì thọ giới đã lâu.
  • Thượng tọa phước đức, vì phước tuệ tôn quý.
  • Thượng tọa pháp tánh, vì đã chứng vô vi.

“A-xà-lê”, dịch là vị sư khuôn phạm, vì có thể làm khuôn phép, tấm gương mẫu mực cho người khác. Có năm loại:

  • A-xà-lê xuất gia: là vị truyền thụ pháp mười giới cho Sa-di.
  • A-xà-lê giáo thụ: khi thọ giới cụ túc, vị này ở chỗ khuất, hỏi người xin thọ giới về các điều ngăn trở việc thọ giới (xét tư cách), rồi dạy người ấy cách xin giới pháp.
  • A-xà-lê yết-ma: là vị thực hiện pháp sám-ma diệt tội; khi thọ giới Tỳ-kheo, ở ngay giới đàn mà tác pháp bạch tứ yết-ma.
  • A-xà-lê y chỉ: là vị mà mình nương tựa, nhờ chỉ dạy, dù chỉ trong một đêm.
  • A-xà-lê giáo độc (”độc” nghĩa là đọc): là vị mà mình nương theo để thọ nghĩa kinh, cho đến chỉ bốn câu kệ.

Luật chế định, một vị Tăng khi đi xa thì cần hai người đồng hành: một là thượng tọa, hai là a-xà-lê. Để nghiêm chỉnh oai nghi và phòng ngừa lỗi lầm. Nay A-nan không có ai đi cùng, một mình trở về, nên mới dẫn đến việc gặp nạn.

Ngày ấy không ai cúng dường. A-nan bèn cầm bình bát, đi bộ vào thành, tuần tự khất thực.

Ba, không có ai cúng dường nên phải đi khất thực.

“Ngày ấy” tức ngày Tự tứ, ngày vua Ba-tư-nặc thỉnh Phật. Dân chúng trong thành biết các trưởng giả, cư sĩ cũng đồng thời thiết trai. Nên không ai đem thức ăn đến cúng dường. Nếu có người cúng, lẽ ra đã không gặp nạn.

A-nan bất đắc dĩ phải đi khất thực. Tức khoảng trước giờ Ngọ, ngài cầm bình bát đi vào thành Thất-la-phiệt để xin ăn.

“Bình bát” dùng để đựng thức ăn. Phạn ngữ bát-đát-la, Hán dịch là ứng pháp khí (dụng cụ ứng pháp), vì ba phương diện thể chất – màu sắc – dung lượng đều đúng pháp.

Về thể chất, có hai loại: bằng sắt hoặc bằng đất nung. Về màu sắc thì dùng khói tre và hạnh nhân, hun cho thành màu chim cưu hoặc chim bồ câu, mùa hè nóng bức đựng thức ăn cũng không bị thiu. Về dung lượng thì tùy theo sức ăn mà làm, lớn nhất không quá ba thăng, nhỏ nhất cũng phải một thăng rưỡi.

Tuần tự khất thực: tức không phân biệt tịnh uế, cứ theo thứ tự từng nhà mà xin.

Đây là vì sức Tiểu thừa mỏng yếu, như cánh chim non chỉ có thể bám quanh cành. A-nan mới ở ngôi Sơ quả hữu học, lại muốn học theo hạnh đi đứng của Phật và Bồ-tát, nên mới dẫn đến việc gặp nạn.

Trong tâm mong gặp đàn-việt sau cùng làm trai chủ. Không soi tịnh uế, dù là Sát-lợi tôn quý hay Chiên-đà-la. Lòng từ bình đẳng, không kể sang hèn, phát tâm viên thành vô lượng công đức cho hết thảy chúng sanh.

Bốn, muốn thực hành lòng từ bình đẳng.

Tiểu thừa khất thực phải tránh năm nhà: quan lại, hát xướng, đồ tể, bán rượu, dâm nữ. Nay A-nan chọn khất thực tuần tự theo thứ lớp, trong tâm mong gặp được đàn-việt sau cùng, làm trai chủ cho mình.

“Đàn” (đàn-na) nghĩa là bố thí. Vì bố thí được phước, có thể vượt (việt) cái khổ bần cùng, nên gọi thí chủ (người bố thí) là đàn-việt.

Từ “đàn-việt” này nửa Phạn nửa Hán.

Nói “sau cùng” vì vua, trưởng giả, cư sĩ là các đàn-việt ở trước, đã tu hạnh cúng dường. A-nan mong gặp người không thuộc nhóm đó, phát tâm bố thí cho mình. Tức cầu có đàn-việt sau cùng, làm trai chủ của mình. Đối lại với các đàn-việt ở trước (vua, trưởng giả, cư sĩ) làm trai chủ cho Phật, Bồ-tát, A-la-hán.

Không soi tịnh uế: tức cứ tuần tự từng nhà, theo thứ lớp mà khất thực.

“Sát-lợi” nói đủ là “Sát-đế-lợi”, Hán dịch vương chủng, hoặc điền chủ. Đây là dòng họ vương gia, thuộc loại tôn quý trong bốn giai cấp, tương ứng nhà thanh tịnh.

“Chiên-đà-la” nghĩa là người hành nghề giết mổ. Họ không được ở chung với lương dân, cũng không được đi chung đường. Khi đi đường phải rung chuông, cầm cờ hiệu để người khác biết mà né tránh. Đây ứng với nhà ô uế.

Lòng từ bình đẳng, không kể sang hèn: Hai vế này giải thích ý “không soi tịnh uế” ở trên. Vì muốn noi theo Phật và Bồ-tát, dùng tâm từ bình đẳng mà hành pháp khất thực bình đẳng, không hiềm chê những nhà thấp hèn nghèo khó mà không đến khất thực.

Dùng lòng từ bình đẳng để khất thực có năm ý nghĩa:

  1. Do bên trong chứng lý bình đẳng, nên bên ngoài không thấy có tướng giàu nghèo.
  2. Tâm lìa tham và mạn, lòng từ không bị thiên lệch theo lợi ích.
  3. Biểu thị uy đức, không sợ những nhà có voi dữ, bán rượu hay dâm nữ.
  4. Dứt sự nghi ngờ của phàm phu.
  5. Phá sự phân biệt của nhị thừa.

Vì vậy A-nan muốn noi theo pháp ấy mà thực hành lòng từ bình đẳng, không hiềm chê người thấp hèn. Ở trên tuy nói “không soi tịnh uế”, nhưng ý thật là ở chỗ “không hiềm người thấp hèn” vậy.

Phát tâm viên thành vô lượng công đức cho hết thảy chúng sanh:

Nghĩa là phát tâm Đại thừa, thực hành khất thực bình đẳng. Vì không lựa bỏ người thấp hèn, khiến họ cũng có thể bố thí thức ăn cầu phước, nên có thể thành tựu viên mãn vô lượng công đức cho hết thảy chúng sanh, bất kể tịnh uế. Còn như Tiểu thừa bỏ qua, không khất thực người thấp hèn, thì những chúng sanh ấy sẽ không có được công đức bố thí vậy.

Lại nữa, khất thực bình đẳng, không kén chọn, thì tránh được sự nghi ngờ và hủy báng. Đối trước thức ăn đã bình đẳng, thì đối với pháp cũng bình đẳng, công đức cũng bình đẳng. Vì vậy có thể viên thành vô lượng công đức cho chúng sanh. Chứ nếu khiến người ta nghi báng, thì chẳng những công đức không thể viên thành, trái lại còn khiến họ vì nghi báng mà sanh tội. Thế thì hai mặt lợi hại giữa Tiểu thừa và Đại thừa, há chẳng rõ ràng ư?

Noi pháp Đại thừa, dùng tâm từ bình đẳng mà khất thực, tốt thì thật là tốt. Có điều, phải xét kỹ căn khí của mình thế nào, sức lực ra sao. Như A-nan còn như trẻ nhỏ, lẽ ra nên ở bên mẹ. Nay bỗng quên căn khí và sức lực của bản thân. Rời Phật, không có bạn đi cùng, lại muốn noi pháp Đại thừa mà khất thực bình đẳng, nên mới dẫn đến việc gặp nạn.

Vì A-nan biết, Thế Tôn từng quở trách Tu-bồ-đề và Đại Ca-diếp: là A-la-hán tâm chẳng quân bình. Kính mộ Như Lai đã khai tỏ lòng từ không ngăn ngại, độ thoát chúng sanh khỏi sự nghi báng.

Ở đây nói rõ nguyên do muốn khất thực bình đẳng. Vì A-nan đã sớm biết việc này ở pháp hội Tịnh Danh.

Chữ “Thế” trong Thế Tôn bao hàm hai thứ thế gian. Phật là bậc được tôn kính bởi cả sáu cõi phàm thế gian hữu tình, và ba thừa thế gian chánh giác, tức cả chín pháp giới, nên gọi là Thế Tôn.

Tu-bồ-đề bỏ qua nhà nghèo, khất thực nhà giàu, vì sợ phước của nhà giàu mai sau sẽ hết, nên muốn giúp họ tiếp nối căn lành. Vả lại họ dư dả, không lo phần ăn bị giảm tổn.

Còn Đại Ca-diếp bỏ qua nhà giàu, khất thực nhà nghèo, vì thương nhà nghèo chịu khổ đã lâu, muốn khiến họ gieo nhân an vui, được phước về sau. Vả lại tránh được lời dị nghị xu nịnh nhà giàu.

Hai vị tôn giả tuy đều có ý tốt, nhưng tâm chưa bình đẳng, nên bị cư sĩ Duy-ma-cật quở trách. Trong văn ghi “Thế Tôn quở trách” là vì cư sĩ Duy-ma là hậu thân của Kim Túc Như Lai. Thế thì biết, lời quở trách của ngài Duy-ma cũng chính là lời của Thế Tôn. Hơn nữa, đức Thích-ca không cho lời quở của cư sĩ Duy-ma là sai, đủ biết rằng cũng quở trách vậy.

A-nan kính mộ Như Lai đã khai phát, tỏ rõ về lòng từ không ngăn ngại. Dùng tâm ấy mà khất thực bình đẳng, thì có thể vượt khỏi sự nghi báng. Chuyên khất thực nhà nghèo thì ắt khiến người ta sanh nghi. Chuyên khất thực nhà giàu thì dễ chiêu vời lời chê báng. Nay giàu nghèo không ngăn ngại, tâm từ không thiên lệch, vậy mới hợp hạnh Đại thừa, có thể độ thoát chúng sanh khỏi sự nghi báng.

Chuyên khất thực nhà nghèo thì sanh nghi, chuyên khất thực nhà giàu thì sanh báng: Đây là cách tách chữ để diễn giải, đảo ngược lại vẫn có lý.

Cách chia của ngài Viên Anh là nhìn từ góc độ người thí chủ:

  • Với người nghèo, họ sẽ nghi ngờ lòng từ bi của người tu: “Con nghèo như vậy, sao ngài còn khất thực làm khó con?”
  • Với người giàu, họ sẽ bàn tán chê bai: “Người tu cũng biết lựa chỗ xin, cũng ham đồ ngon.”

Còn đảo ngược lại thì nhìn từ góc độ người thứ ba:

  • Khi chuyên xin nhà nghèo, người ngoài sẽ chê trách, báng bổ: “Người ta nghèo như thế còn đến xin.”
  • Khi chuyên xin nhà giàu, người ngoài sẽ hiềm nghi: “Ông này chắc hám lợi, hay đi lại với nhà giàu.”

Mậu hai – Sự việc gặp nạn

Đến trước cửa thành, bước đi thong thả, nghiêm chỉnh oai nghi, cung kính trang nghiêm trai pháp.

Đây là oai nghi khi vào thành khất thực.

Vừa qua rãnh hào bên ngoài thành Thất-la-phiệt, đến trước cửa sắp sửa vào thành, A-nan càng thêm phần dè dặt giữ gìn. Bước đi thong thả đoan chính, như gió mát từ từ thổi đến. Nghiêm túc chỉnh đốn oai nghi, cung kính trang nghiêm với pháp khất thực, mong nhờ đó mà cảm hóa lòng người. Nào biết, ngược lại vì thế mà khiến chính mình lầm lạc!

Khi ấy, A-nan nhân vì thứ lớp khất thực, đi ngang nhà dâm nữ, gặp phải đại huyễn thuật. Nàng Ma-đăng-già dùng chú Phạm Thiên Sa-tỳ-ca-la, nhiếp phục A-nan, bắt vào phòng riêng.

“Khi ấy” tức là lúc vào thành khất thực. Do A-nan muốn học theo Bồ-tát, dùng tâm bình đẳng để khất thực, đi tuần tự từng nhà theo thứ lớp. Thế là đi ngang qua nhà dâm nữ, gặp phải đại huyễn thuật.

“Huyễn thuật” là những chú thuật hư huyễn, thường dùng để biến hóa hình tượng sự vật. Nhưng ở đây là loại chú thuật mê hoặc con người, khiến người ấy mất sức tự chủ, tâm trí mơ hồ không hay biết mà bị nhiếp phục dẫn đi.

Huyễn thuật ấy có lực to lớn, có thể khiến Phạm Thiên phải xuống trần, các loại chú thuật khác không so được, nên gọi là “đại”.

Ma-đăng-già: Theo kinh Giới Nhân Duyên, dịch là chủng tiểu gia, còn gọi là chủng hạ tiện. Đây là tên người mẹ. Người con gái tên Bát-cát-đề, Hán dịch bản tánh. Nghĩa là tuy đọa làm dâm nữ nhưng bản tánh không mất. Nay ghi “nàng Ma-đăng-già”, tức nương theo người mẹ mà nêu tên.

“Sa-tỳ-ca-la” nghĩa là tóc vàng, cũng gọi là Kim Đầu, tên một ngoại đạo khổ hạnh. Họ mạo xưng thuở xa xưa được thần Phạm Thiên truyền thụ chú này, nên nói “chú Phạm Thiên”.

Ngoại đạo Kim Đầu dạy chú thuật ấy cho Ma-đăng-già. Con gái bà nhân thấy A-nan có hai mươi tướng tốt của Phật, làn da trắng ngần, bèn sanh tâm ái nhiễm. Lại vì quá khứ từng có năm trăm đời cùng A-nan làm vợ chồng, tập khí luyến ái chưa quên, nên vừa thấy liền yêu mến. Nàng thưa với mẹ, mong được A-nan làm chồng.

Người mẹ bảo, Tôn giả A-nan đã theo Phật xuất gia, lìa bỏ ái dục, chớ khởi nghĩ như thế nữa. Người con nài nỉ khóc lóc, xin mẹ giúp cho mãn nguyện. Người mẹ bất đắc dĩ, bèn chú vào chiếc khăn, phủ lên thức ăn, dặn con gái đem thức ăn ấy đưa cho A-nan.

A-nan tâm trí mơ hồ, bị tà chú nhiếp phục, đi theo vào nhà, đến tận chỗ nằm của Bát-cát-đề.

Thân dâm vuốt ve, sắp hủy giới thể.

Đây nói giới thể gặp nguy.

“Thân dâm vuốt ve” là chỉ Bát-cát-đề, khi ấy tâm dâm bừng bừng, lửa dục bốc cao, đem thân mình áp sát A-nan, tựa kề vuốt ve. A-nan như ngây như dại, tâm tuy sáng biết, nhưng không sức tự chủ.

“Giới thể” (thể của giới) là sắc pháp diệu thiện vô lậu mà người thọ giới có được sau khi lên giới đàn tác pháp bạch tứ yết-ma, gọi là “thể giới vô tác”.

Vị sư yết-ma sau lần bạch thứ nhất xong, nói: “Lần yết-ma thứ nhất đã thành. Giới pháp diệu thiện trong mười phương, do sức tâm nghiệp, thảy đều chấn động.”

Lần kế nói: “Lần yết-ma thứ hai đã thành. Giới pháp diệu thiện trong mười phương, như mây như lọng giữa hư không, che phủ đỉnh đầu ông.”

Lần thứ ba nói: “Lần yết-ma thứ ba đã thành. Giới pháp diệu thiện trong mười phương, từ cửa đỉnh đầu chảy vào thân tâm ông, đầy khắp chánh báo.”

Đó chính là giới thể.

Ngài Giao Quang nói: tức là tâm hộ giới.

Sau khi đắc giới (giới pháp thành tựu), nơi người thọ giới hình thành một cái thể có công năng âm thầm phòng hộ, nên gọi là “thể giới vô tác”. Tuy định nghĩa là “sắc pháp” nhưng không nhìn thấy được, thế nên ngài Giao Quang gọi giới thể là “tâm hộ giới”.

“Sắp hủy giới thể” có hai cách giải thích:

  • Một là, Bát-cát-đề sắp đến lúc hủy hoại giới thể của A-nan để thỏa mãn lòng dục của mình.
  • Hai là, may nhờ A-nan đã chứng Sơ quả, có lực của đạo cộng vào giới, nên thân tuy kề cận nhưng tâm không động. Giới thể do đó chỉ gặp nguy sắp bị phá, chứ chưa phá, vẫn được bảo toàn.

Bốn quả Thánh của Tiểu thừa:

  • Sơ quả Tu-đà-hoàn: nhập vào dòng Thánh, tối đa bảy lần tái sinh.
  • Nhị quả Tư-đà-hàm: chỉ còn một lần tái sinh vào nhân gian.
  • Tam quả A-na-hàm: không trở lại nhân gian, sinh về cõi trời Sắc giới tu tiếp.
  • Tứ quả A-la-hán: hết ngã chấp và phiền não, thoát luân hồi sanh tử.

Ngay lúc bức bách hiểm nguy ấy, A-nan thầm cầu khẩn: “Thế Tôn đại từ, lẽ nào không cứu con sao!” Thế Tôn có tha tâm thông nên ắt biết. Vì thế ở văn dưới, sau khi thọ trai liền mau chóng trở về, thuyết thần chú cứu thoát.

Đinh bốn – Như Lai ứng cứu

Mậu một – Chóng về nói chú

Như Lai biết A-nan bị dâm thuật gia hại, thọ trai xong liền về. Vua cùng đại thần, trưởng giả, cư sĩ đều đi theo Phật, mong nghe pháp yếu.

Tâm Phật thấy biết chân thật, không gì chẳng biết, nên đã biết A-nan bị dâm thuật gia hại.

“Dâm thuật” là chỉ thứ tà chú làm phương thuật dẫn khởi dâm dục. A-nan bị sức chú gia hại, không đủ lực địch lại, chỉ biết trông mong Phật rủ lòng cứu nạn.

Theo lệ thường, sau khi thọ trai xong, Phật đều vì thí chủ mà thuyết pháp. Hôm nay mau chóng trở về, tất có nhân duyên. Vì thế vua, đại thần, v.v. đều đi theo Phật, mong được nghe những nghĩa tâm yếu của đại pháp.

Khi ấy, đỉnh đầu Thế Tôn phóng ra hào quang trăm báu vô úy. Trong hào quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa thân Phật kiết-già trong ấy, tuyên nói thần chú.

“Khi ấy” tức là lúc Phật trở về, đại chúng đi theo, còn giới thể của A-nan sắp bị phá.

“Đỉnh đầu” tức là tướng nhục kế, biểu thị tánh Như Lai Tạng, lý thể bản giác. “Hào quang” biểu thị trí dụng thủy giác. Từ đỉnh đầu phóng quang, biểu thị từ thể khởi dụng—nương bản giác (thuộc ) mà khởi thủy giác (thuộc trí).

Hào quang đủ trăm báu biểu thị đức dụng từ bi, có cầu ắt có ứng, có thể nhiếp thọ các giống loài. Hào quang đủ vô úy biểu thị lực dụng uy thế, không ác nào không phá, có thể chiết phục các thứ tà.

Nếu dựa vào ngữ cảnh mà bạn chưa hiểu mấy cụm trên, thì diễn giải ra sẽ thế này:

  • Lý thể bản giác: Phần bản thể thuộc lý, là bản giác.
  • Trí dụng thủy giác: Phần công dụng thuộc trí, là thủy giác.
  • Đức dụng từ bi: Phần công dụng thuộc phương diện đức, là từ bi.
  • Lực dụng uy thế: Phần công dụng thuộc phương diện lực, là sức uy thế.

Trong hào quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh: “Hoa sen” biểu thị hạnh tu nhân, tức nương sự khai giải mà khởi sự tu hành, nương trí thủy giác mà tu hạnh Đại thừa.

Nối tiếp ở trước, từ đỉnh đầu là bản thể (lý bản giác), phóng hào quang là công dụng (trí thủy giác). Đến đây, trong hào quang lại có hoa sen, tức từ giải khởi hạnh, từ trí thủy giác mà nảy ra các công hạnh tu tập Đại thừa ở địa vị tu nhân. Vì thế nói hoa sen biểu thị hạnh tu nhân.

“Lý thể bản giác” và “trí dụng thủy giác” vốn đã được nói nhiều lần ở các kỳ trước. Nhưng nếu bạn vẫn cảm thấy rối rắm, thì tạm hình dung thế này: Để tu đại định Lăng-nghiêm thì cần ngộ Như Lai mật nhân, nhận được tánh Phật ở nơi mình. Đó là bản giác, thuộc phần lý. Từ phần bản thể đó, khởi lên công dụng là trí thủy giác. Dùng trí ấy chiếu soi ngược lại bản giác. Như Bồ-tát Quán Thế Âm tu nhĩ căn viên thông, từ cửa căn tai là bản giác, khởi trí thủy giác soi ngược lại tánh nghe (phản văn). Đó chính là công phu tu chứng liễu nghĩa.

Tại sao chỉ có việc phóng hào quang mà nhiều ý nghĩa đến thế?

Vì khi giáo hóa, ngoài âm thanh thì Phật còn dùng sắc tướng. Người căn cơ nhạy bén, chỉ cần nhìn hành vi và biểu hiện của Phật là hiểu ý, đó gọi là âm thầm chỉ bày. Còn với người chưa hiểu, Phật mới phải dùng lời nói diễn giảng ra.

Thế nên mỗi lần Phật phóng hào quang, hoặc dùng thần thông, đều có chủ ý giáo hóa. Người không hiểu, lại cho là chi tiết tô điểm thêm cho đẹp, vì thế mà phải giải thích.

Có hóa thân Phật kiết-già trong ấy, tuyên nói thần chú: Ở trên là phóng quang sanh hoa sen, đến đây là hóa thân Phật nói chú.

Thiền sư Giới Hoàn nói: “Đây là Phật tâm vô vi, pháp tâm vô thượng.” Phật ở đỉnh đầu của Phật, tức tôn quý trong tôn quý. Còn thần chú được thuyết là bí mật trong bí mật.

Dựa theo ngữ cảnh, mình hiểu câu của Thiền sư Giới Hoàn: vế đầu chỉ hóa thân Phật, vế sau chỉ thần chú. “Phật tâm” nghĩa là Phật nơi tâm, “pháp tâm” cũng thế.

Phật đỉnh biểu thị cực quả của chư Phật. Hoa sen biểu thị mật nhân của Như Lai. Nay hoa sen từ đỉnh sanh ra, hiển bày nhân tâm không lìa quả giác. Phật lại ở trong hoa, hiển bày quả giác không lìa nhân tâm. Nghĩa là: khi cái đức do tu thành có công, thì cái đức sẵn nơi tánh mới hiển, và có thể thành tựu quả giác cứu cánh là Phật.

Ở đây, phương diện giải thích đã thay đổi thành nhân – quả. Vì thế, thứ được biểu thị của “Phật đỉnh” và “hoa sen” khác đi. So với trước là theo mạch lý thể – trí dụng – nhân hạnh.

Kiết-già: ngồi bắt tréo chân, chi tiết trong Chỉ Quán.

Trong kinh này tổng cộng có năm lần phóng quang:

  • Lần thứ nhất từ đỉnh đầu, biểu thị y lý khởi trí.
  • Lần thứ hai từ trước mặt, biểu thị chư trí sắp khai.
  • Lần thứ ba từ chữ “vạn”, biểu thị nhân tâm, hiển tánh thấy.
  • Lần thứ tư từ đỉnh đầu chư Phật, biểu thị một – nhiều vô ngại.
  • Lần thứ năm từ năm vóc, biểu thị nhĩ căn viên thông, tổng nhiếp các căn.

Mậu hai – Sắc lệnh cứu thoát

Lệnh cho Văn-thù, đem đi cứu hộ. Ác chú bị diệt, Văn-thù dìu dắt, khuyên nhủ A-nan cùng Ma-đăng-già, cùng về chỗ Phật.

Phật là bậc Pháp vương, nên có thể xưng dùng sắc lệnh như vua thế gian. Chú tuy do Phật nói, nhưng cần nhờ Tăng truyền đi. Sở dĩ nhất định lệnh cho ngài Văn-thù vì:

  • A-nan bị tà thuật trấn áp, không nhờ bậc đại trí thì không thể tỉnh lại.
  • Ma-đăng-già bị si ái trói buộc, không nhờ bậc đại trí thì không thể cởi gỡ.

Đem đi cứu hộ: đem thần chú của Phật đến nhà ấy, cứu hộ A-nan và Ma-đăng-già.

Thần chú vừa đến, ác chú liền bị tiêu diệt, như nước nóng làm tan băng, như mặt trời phá bóng tối, rốt cùng tà không thể địch lại chánh. A-nan như từ trong mộng tỉnh dậy, lửa dục của Ma-đăng-già nguội tắt. Ngài Văn-thù dìu dắt, khuyên nhủ hai người trở về chỗ Phật.

Dìu dắt là đối với A-nan mà nói. Do như người say vừa tỉnh, tinh thần chưa hồi phục, nên cần được dìu dắt.

Khuyên nhủ là đối với Ma-đăng-già mà nói. Do như người si chưa ngộ, chưa chịu buông cho A-nan trở về, nên cần được khuyên nhủ.

Ma-đăng-già gặp Phật, nhờ Phật khai thị dẫn dắt, liền chứng Tam quả. Đây cũng vì căn cơ đã chín, mượn duyên mà thành tựu lợi ích.

Kinh nói: “Tánh của dâm – nộ – si, cũng tức là tánh của giới – định – tuệ”. Lấy việc Ma-đăng-già chứng minh thì có thể dứt nghi.

Tánh thiện và tánh ác ví như vàng. Vàng vốn không phải thiện hay ác, nhưng có thể tùy duyên thiện ác mà thành khác nhau. Như có hai người, một người dùng vàng đúc thành tượng Phật, một người dùng vàng đúc tượng dâm nữ. Đây là chỗ phân thiện ác.

Giả sử có người bạn tốt, khuyên người đúc tượng dâm nữ rằng: “Ông dùng vàng quý giá như vậy để làm tượng dâm nữ, khiến người ta động lòng dục, tạo tội nghiệp. Sao không dùng vàng ấy đúc thành tượng Phật, khiến người sanh tâm cung kính, cầu phước báo?” Người kia nghe rồi hối hận tỉnh ngộ, liền y theo lời dạy. Không cần đổi thứ vàng khác, cũng không cần lò bễ riêng khác, vẫn đúc thành tượng Phật được.

Người dâm, nộ, si cũng không cần đổi tánh khác. Ngay tánh ấy có thể tu thành ba học vô lậu: giới, định, tuệ. Đạo lý cũng như vậy.

Không chỉ chánh nhân của thiện ác đồng thể, mà ngay cả duyên nhân và liễu nhân cũng chưa từng khác, chỉ là có biết khéo dùng hay không mà thôi.

Ma-đăng-già vừa chuyển cơ dâm liền chứng Tam quả, Thánh – phàm lập tức phân rõ, chính là bằng chứng vậy!

”Bính hai – Tựa phát khởi” hết. Toàn bộ “Ất một – Phần Tựa” cũng hết.

Văn kinh Việt dịch

Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *