CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 15

Chánh tu giảng bày diệu định thành Phật – A-nan thỉnh định

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Mậu một – Hối đa văn, thỉnh đại định

A-nan thấy Phật, đảnh lễ khóc lóc, hận từ vô thủy đến nay, một bề chỉ lo nghe nhiều, chưa tròn đạo lực. Tha thiết cầu Phật dạy: Diệu Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na, cùng phương tiện bắt đầu, mà mười phương Như Lai đã dùng để thành tựu Bồ-đề.

Văn kinh từ đây cho đến trước phần Lưu thông, đều thuộc Chánh tông. Là nghĩa lý tông yếu của toàn kinh, cũng tức là phần nội dung chính, trình bày tông chỉ của tánh định Lăng-nghiêm. Trong Chánh tông, từ đây đến trước phần kết tên kinh là Chánh tu, còn sau khi kết tên kinh thì thuộc Trợ đạo.

Đoạn này là A-nan hối hận việc học rộng nghe nhiều không có công hiệu, nên thỉnh cầu đại định thành Phật.

Sau khi trở về thấy Phật, đảnh lễ: cảm tạ ân Phật rủ lòng cứu giúp.

Khóc lóc: đau buồn vì mắc lỗi thứ lớp khất thực.

Hận từ vô thủy đến nay: “Hận” tức hối hận. “Từ vô thủy” ý nói thời gian đã lâu xa, không rõ lúc bắt đầu.

Một bề chỉ lo nghe nhiều, chưa tròn đạo lực: Tức một bề thiên hướng đa văn, chỉ lo học rộng nghe nhiều, không siêng tu định lực. Chưa từng từ nghe học (văn) mà đến tư duy, tu tập. Vì thế đạo lực còn thiếu sót, không địch lại tà chú. Đạo lực cũng tức là định lực.

Một chữ “hận” này thể hiện tâm của A-nan muốn quay đầu khỏi mê, trở về với ngộ, sửa lỗi làm mới. Nhà Nho nói: “Nếu trò không trăn trở muốn hiểu, không phẫn chí muốn làm, thì thầy chẳng nên giảng bày, hướng dẫn cho.” Nay đã biết hối hận, thì có thể cải đổi sự thiên lệch đa văn, mà hướng đến con đường chánh tu vậy!

Tha thiết cầu Phật dạy: tức thành khẩn thỉnh cầu.

Diệu Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na: A-nan không biết tên của định mà mười phương Như Lai đã tu ở nhân địa, nên nêu tên ba thứ định thông thường, thêm một chữ “diệu” để phân biệt.

Chữ “diệu” này cần xuyên suốt cả ba tên, tức Diệu Sa-ma-tha, Diệu Tam-ma, Diệu Thiền-na. Để phân biệt rằng: Định này không phải do tác ý tu tập mà thành, mà vốn tự nhiên sẵn đủ; không phải riêng chế phục thức tâm, mà bao hàm trọn khắp muôn pháp.

Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na là tên riêng rẽ, còn Thủ-lăng-nghiêm là tên tổng chung của định. Chú giải xưa nói ý này rất đúng. Nhưng cũng cần biết: Tên của ba thứ định kia là tên dùng chung, các kinh khác cũng có. Còn tên Thủ-lăng-nghiêm không dùng chung, chỉ riêng kinh này có.

Vì thế khi đọc giải thích về ba thứ định, phải biết đó là xét riêng theo Lăng-nghiêm. Và ngược lại, cũng không nên đem nghĩa phổ thông vào giải thích ba tên định này. Để bạn tham khảo thêm thì nghĩa phổ thông của chúng là:

  • Sa-ma-tha (Śamatha): nghĩa là thiền chỉ, chọn một đề mục/một điểm để trụ tâm vào, giúp đối trị tán loạn.
  • Tam-ma (Samādhi) có các nghĩa như: đẳng trì (không hôn trầm hay tán loạn), chánh định (tam-muội, hoặc có thể là chi thứ tám trong Bát chánh đạo), tâm nhất cảnh tánh (tính chuyên nhất vào một cảnh của tâm), v.v.
  • Thiền-na (Dhyāna): Hán dịch là tĩnh lự, nói tắt là “thiền”—khái niệm được mọi người sử dụng rộng rãi ngày nay.

A-nan thêm một chữ “diệu” để phân biệt, tức xác định rõ muốn cầu Phật dạy thứ định mà chư Phật Như Lai trong mười phương đã dùng để thành tựu Bồ-đề. Phật biết ý hỏi của A-nan—đã hồi Tiểu hướng Đại, phát tâm Bồ-đề—nên xoa đầu an ủi và bảo rằng: “Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm.”

Thủ-lăng-nghiêm Vương chính là thứ định riêng biệt mà mười phương Như Lai nhờ đó thành tựu Bồ-đề. Định này bao hàm trọn đủ ba tên riêng Sa-ma-tha – Tam-ma – Thiền-na, thành một tên chung của Phật định. Một môn siêu vượt này chính là pháp môn tu chứng nhất thừa liễu nghĩa—có thể siêu vượt khỏi Quyền giáo và Tiểu thừa, hướng đến con đường trang nghiêm mầu nhiệm.

Phật sau khi chỉ ra tên chung, vẫn y theo thứ tự tín – giải – tu – chứng mà lần lượt đáp ba tên. Trong văn kinh nguyên phần Chánh thuyết, ba mục đều có nêu ra, ranh giới phân minh:

Quyển thứ nhất, sau khi Phật phá vọng thức không nơi chốn, A-nan liền cầu “Thế Tôn mở bày con đường Sa-ma-tha cho chúng con”. Nên biết sau chỗ đó, Phật lại phá vọng thức không phải tâm, vọng thức không tự thể, chính là dẹp bỏ chướng ngại cho con đường Sa-ma-tha. Vì thức tâm chính là chướng ngại của đại định Lăng-nghiêm, thức tâm chưa trừ thì đại định không thành.

Sau đó, Phật chỉ bày tánh thấy không sanh diệt, không lay động ở trong căn. Rồi lại hội bốn khoa, dung bảy đại, cho đến chỗ cùng cực là ba Như Lai Tạng. Tất cả đều là khai thị con đường Sa-ma-tha!

Cốt muốn A-nan khai giải, soi tỏ rằng: cái thể định thường trụ diệu minh, bất động chu viên này chính là Sa-ma-tha. Đây là y theo chánh nhân Phật tánh, kèm theo liễu nhân Phật tánh là sự quán chiếu vi mật. Cái quán này không giống các thứ quán do ý thức, mà thuộc tự tánh sẵn đủ, tức là tuệ của định.

Phần này trong văn kinh chiếm ba quyển rưỡi, tức “Như Lai mật nhân” ở nhan đề.

“Vi mật quán chiếu” (thứ quán chiếu vi mật) là một khái niệm nằm ngay trong văn kinh, nên sẽ còn gặp lại và nghe giải thích nhiều. Ở kỳ Giải thích nhan đề đã nói qua một lần, bạn còn nhớ chứ? Đến đây lại thêm một lần, rằng: quán chiếu vi mật là thứ quán chiếu thuộc tự tánh, chứ không phải quán bằng ý thức. Còn về mặt chữ nghĩa: “vi” là vi tế, đối lại với “thô phù”; “mật” là mật kín, đối lại với “hiển lộ”.

Hiểu trên chữ nghĩa thì không có gì khó, chẳng qua khi mới học thì dễ quên vì gặp nhiều khái niệm cùng lúc. Nhưng để thật sự nhận hiểu vi mật quán chiếu là thế nào, thì phải ngộ được tự tánh. Vì như trên nói, vi mật quán chiếu chính là khai giải, soi tỏ rõ ràng được cái thể định thường trụ diệu minh, bất động chu viên!

Phần nội dung giải thích “Sa-ma-tha” này (cũng như tiếp ở dưới là Tam-ma và Thiền-na) thật ra là nhắc lại những gì đã nói ở kỳ Giải thích nhan đề. Nên biết: Chỗ cốt yếu của việc học là lặp đi lặp lại những ý quan trọng, chứ không phải liên tục học thêm những thứ mới. Ngược lại, những gì được nói đi nói lại nhiều lần, tức chính là những ý quan trọng cần để tâm học kĩ!

Quyển thứ tư, A-nan thỉnh Phật chỉ bày cửa vào ngôi nhà đẹp, tức sau khi ngộ bèn thỉnh pháp tu. Do đây mà chứng biết rằng, ba quyển rưỡi trước chỉ nói về tánh, không nói về tu, nên toàn thuộc phần Sa-ma-tha—khai giải soi tỏ thể định sẵn đủ là tánh Như Lai Tạng.

Từ nửa sau quyển bốn, Phật đáp về Diệu Tam-ma, bảo rằng: “Các ông đã quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp Diệu Tam-ma-đề của chư Phật Như Lai không sanh mỏi nhọc, thì trước hết phải rõ hai nghĩa quyết định khi mới phát tâm.”

Một là, quyết định lấy nhân đồng với quả. “Nếu ở nhân địa, lấy tâm sanh diệt làm nhân tu căn bản, mà cầu Phật thừa bất sanh bất diệt, tuyệt không có lẽ ấy.” Đây rõ ràng là xả thức!

Hai là, quyết định từ căn giải kết. Phật dạy sau khi ngộ thì khởi tu, ở nơi sáu căn cần chọn lấy một căn để hạ thủ công phu, chỉ từ một cửa mà thâm nhập. Đây rõ ràng là dùng căn!

Hạnh khởi lên thì giải dứt tuyệt, tự có thể vào đến chỗ không còn vọng, một căn về nguồn thì sáu căn đều giải thoát.

Hạnh khởi giải tuyệt: Vế này hơi thiếu ngữ cảnh. Mình đang hiểu là, khi khởi tu thì những nghĩa lý, ý niệm khi học hiểu sẽ dứt bặt. Cũng giống như lái xe, lúc học thì cần ghi nhớ ngẫm nghĩ nhiều thứ. Nhưng qua giai đoạn học hiểu, đến lúc lái thật sự mà cứ phải nhẩm lý thuyết trong đầu thì không yên ổn lái được.

Sau đó Bồ-tát Văn-thù đặc biệt chọn nhĩ căn, từ văn – tư – tu mà vào, tức chính là Diệu Tam-ma. Đây là y theo chánh nhân Phật tánh, kèm theo duyên nhân Phật tánh là từ căn tu chứng, cũng thuộc tánh sẵn đủ, tức định của tuệ. Phật muốn A-nan—vốn là người đa văn—vẫn hướng về nhĩ môn, theo đường cũ mà trở về nhà.

Văn kinh chiếm hơn ba quyển, tức “tu chứng liễu nghĩa” ở nhan đề.

Cuối quyển bảy, Phật đáp về Diệu Thiền-na, nhân vì A-nan bạch Phật rằng: “Chúng con ngu độn, chỉ thích đa văn, chưa cầu thoát ly các tâm hữu lậu. Nhờ Phật từ bi chỉ dạy, mà được pháp chánh huân tu, thân tâm khoan khoái, gặt lợi ích lớn.” Kế đó thỉnh hỏi các ngôi vị Thiền-na. Phật vì thế mà thuyết diệu tánh viên minh, lìa các danh tướng, vốn không phân chia mê – ngộ hay phàm – Thánh, chỉ tại chúng sanh nhất niệm vọng động mà ra. Thế nên trước tiên chỉ bày hai thứ đối nhau:

  • Nhiễm duyên khởi: từ chân khởi vọng, thành mười hai loài chúng sanh.
  • Tịnh duyên khởi: phản vọng về chân, thành năm mươi lăm ngôi Thánh.

Do từ Tam-ma ở trước mà chứng thể viên thông, an trụ trong viên định, nên từ thể khởi dụng mà muôn hạnh dấy khởi. Mang theo cả định và tuệ ở trước, trung trung lưu nhập vào biển Tát-bà-nhã, tức biển Nhất thiết chủng trí của Như Lai. Văn kinh nói: “Từ đây tu tập dần dần, tùy theo hạnh khởi mà an lập Thánh vị.” Trụ trì bản định, trải qua các ngôi vị mà tăng tiến, cho đến viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc. Đó chính là Diệu Thiền-na.

Nhất thiết chủng trí: Đây là giải thích cho “Tát-bà-nhã”. “Nhất thiết” là hết thảy, tất cả. “Chủng” là chủng loại. Nghĩa là cái trí giác biết hết thảy pháp, ở hết thảy các phương diện.

Đây là y theo chánh nhân Phật tánh, đồng thời kiêm cả duyên nhân và liễu nhân, tức định tuệ viên dung, vốn sẵn đủ trong tánh. A-nan tự nói: “Đốn ngộ Thiền-na, sự tiến tu các ngôi Thánh”.

Văn kinh chỉ nửa quyển, tức “chư Bồ-tát vạn hạnh” ở nhan đề. Đây là hạnh tự – tha lưỡng lợi, trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh.

Gộp ba tên riêng này lại thành một danh hiệu chung “Thủ-lăng-nghiêm”. Chính là chỗ A-nan thỉnh hỏi: thứ đại định khiến mười phương Như Lai chứng đắc, thành tựu Bồ-đề. Thỉnh đáp tương ưng, như chim con và chim mẹ đồng thời mổ vỏ không sai lệch.

Chim con và chim mẹ đồng thời mổ vỏ: Chỉ cảnh chim con sắp nở, mổ vỏ từ bên trong, bên ngoài chim mẹ cũng mổ giúp. Hai bên tương ưng đúng thời thì sẽ làm vỡ được vỏ trứng. Ví cho thầy trò đạo tâm khế hợp. Người trò căn cơ chín muồi, khao khát thoát vỏ. Người thầy ngay lúc ấy điểm phá, gợi dẫn từ bên ngoài, khiến được đại ngộ.

Cùng phương tiện bắt đầu: Sa-ma-tha chính là phương tiện bắt đầu của định Thủ-lăng-nghiêm. Vì trong phần Sa-ma-tha, Phật phá thức không phải tâm, hiển tánh thấy chính là tâm, khiến ngộ căn tánh không sanh diệt, không lay động là bản định tự nhiên, là tánh Như Lai Tạng. Y vào căn tánh không sanh diệt này, lấy làm nhân tu căn bản để thành tựu Bồ-đề. Vì vậy gọi là phương tiện bắt đầu.

Tam-ma là phương tiện ban đầu. Vì trong phần Tam-ma, khi Như Lai hỏi chư Thánh, văn rằng: “Nay tôi muốn hỏi, khi mới phát tâm, trong mười tám giới, các ông ngộ được cái nào viên thông? Từ phương tiện gì vào Tam-ma-địa?” Theo đó mà xét, ngộ lý là phương tiện bắt đầu (Sa-ma-tha ngộ viên lý), tu hành là phương tiện ban đầu (Tam-ma tu viên hạnh). Riêng chọn nhĩ căn, phản văn vào dòng, đắc chứng viên thông mà lên ngôi Sơ trụ. Vì là phương tiện nhập Sơ phát tâm trụ nên gọi “phương tiện ban đầu”.

“Sơ trụ” là nói tắt của “Sơ phát tâm trụ”.

Thiền-na là phương tiện [vào sâu]. Vì trong phần Thiền-na, đã được viên chứng, dùng hạnh “định tuệ quân bình, trung trung lưu nhập” làm phương tiện để vào biển Tát-bà-nhã. Luận nói: “Bồ-tát Thập địa đầy đủ phương tiện, đắc thành Bồ-đề.” Vì vậy lấy hạnh vị trong viên định làm phương tiện.

Chính nhờ Như Lai khéo đáp mà thấy được chỗ khéo hỏi của A-nan.

Vì ở nguyên văn Hán không có tách đoạn, dấu câu cũng mập mờ, nên không biết chính xác ý của ngài Viên Anh khi nêu câu này là gì. Đành phải tự ngẫm nghĩ rồi đoán.

Ngài A-nan không biết tên chung của đại định, nên nêu tên ba thứ định thông thường, thêm một chữ “diệu”. Lại còn hỏi thêm phương tiện để bắt đầu!

Phật sau khi nêu tên tổng của đại định, lại nương theo câu hỏi của ngài A-nan mà lần lượt đáp:

  • Sa-ma-tha ngộ viên lý, thuộc tín – giải.
  • Tam-ma tu viên hạnh, thuộc tu.
  • Thiền-na trải qua các ngôi Thánh, thuộc chứng.

Như thế đồng thời giải đáp luôn chỗ hỏi về “phương tiện”:

  • Sa-ma-tha là phương tiện bắt đầu.
  • Tam-ma là phương tiện ban đầu.
  • Thiền-na là phương tiện vào sâu.

Sau khi hiểu sự dẫn dắt, giải đáp khéo léo của Như Lai, quay về mới thấy chỗ hỏi của ngài A-nan cũng tuyệt diệu!

Giải thích thêm về cách mình dịch ba tầng phương tiện:

  • Phương tiện bắt đầu: Nguyên văn là “tối sơ phương tiện”. “Sơ” nghĩa là ban sơ, ban đầu. “Tối” nghĩa là cùng cực/hơn cả, như các từ: tối cao, tối đa, tối thiểu, tối cổ,… Tầng này giống phương tiện nhập môn cho người muốn bắt đầu, giúp họ từ chỗ đứng ngoài cửa, bước vào được bên trong. Lý do mình không dịch là “phương tiện nhập môn”, hay “phương tiện vào cửa”, vì không hợp với câu hỏi của ngài A-nan.
  • Phương tiện ban đầu: Nguyên văn là “sơ phương tiện” (ở trên giải thích, vì là phương tiện nhập Sơ trụ, nên gọi “sơ phương tiện”). Sau khi vào cửa, gia nhập cộng đồng bên trong, thì trở thành người mới. Lúc này non nớt bỡ ngỡ, cần được dìu dắt và rèn luyện bằng những phương tiện ban đầu để trở nên cứng cáp hơn.
  • Phương tiện vào sâu: Nguyên văn là “phương tiện”. Trải qua một thời gian với phương tiện ban đầu, từ người chân ướt chân ráo nay đã dày dặn vững chãi. Lúc này cần các phương tiện để tiến lên các tầng bậc cao nhất. Mình thêm hai chữ “vào sâu” để tương phản với hai tầng phương tiện trước, giúp dễ hình dung. Còn khi muốn khớp với các kinh luận thì chỉ dùng hai chữ “phương tiện”.

Phật giáo lấy phương tiện làm cửa. Nay Sa-ma-tha là phương tiện bắt đầu, tức cửa ngộ. Tam-ma là phương tiện ban đầu, tức cửa tu. Ngộ và tu là cửa vượt khỏi sanh tử. Thiền-na là phương tiện vào sâu, tức cửa chứng. Trải qua 55 ngôi vị, con đường Bồ-đề chân thật, là cửa chứng nhập Niết-bàn.

Lại nữa, ba thứ định riêng này, mỗi cái đều có phương tiện bắt đầu, phương tiện ban đầu và phương tiện vào sâu:

Diệu Sa-ma-tha lấy “phá thức hiển căn” làm phương tiện bắt đầu; “hội bốn khoa toàn sự tức lý, dung bảy đại toàn tướng đều là tánh” làm phương tiện ban đầu; “truy cứu nguyên nhân ba thứ sanh tục, làm rõ lý do năm đại viên dung” làm phương tiện vào sâu. Toàn bộ ba tầng là phương tiện để viên ngộ tánh lý ba Như Lai Tạng.

Diệu Tam-ma lấy “kiến lập đạo tràng, gia trì thần chú” làm phương tiện bắt đầu; “lời Phật dặn lấy căn tánh không sanh diệt làm nhân địa tâm” làm phương tiện ban đầu; “Bồ-tát Văn-thù chọn nhĩ căn, phản văn tự tánh, một cửa thâm nhập” làm phương tiện vào sâu. Toàn bộ ba tầng là phương tiện viên tu, chứng nhập ngôi Sơ trụ.

Diệu Thiền-na lấy “ba tiệm thứ” làm phương tiện bắt đầu (do giới sanh định); “Can tuệ địa” (gộp Mười tín mà thành) làm phương tiện ban đầu; “năm mươi lăm ngôi vị” làm phương tiện vào sâu. Toàn bộ ba tầng là phương tiện chứng nhập Diệu giác.

Từ đầu đến cuối như chia thành chín phẩm, thứ lớp bày bố rõ ràng, nhờ vậy mới được viên mãn Vô thượng Bồ-đề.

Trong Lăng-nghiêm, ba tên riêng của định vẫn giữ nguyên Phạn ngữ, tức theo lệ “tôn trọng nên không dịch”. Phải biết, ba cái tên này là chỗ trọng yếu nhất, mà cũng khó hiểu nhất trong kinh!

Mười phương Như Lai đã dùng để thành tựu Bồ-đề: “mười phương Như Lai” là người chứng cùng cực, còn “Bồ-đề” là quả chứng cùng cực.

Phạn ngữ “Bồ-đề” dịch là giác đạo, nghĩa là đạo tự giác – giác tha – giác hạnh viên mãn, giúp thành tựu ba thứ Bồ-đề:

  • Chân tánh Bồ-đề: lấy lý làm đạo.
  • Thật trí Bồ-đề: lấy trí tuệ làm đạo.
  • Phương tiện Bồ-đề: lấy tùy cơ giáo hóa làm đạo.

“Bồ-đề” là danh từ chính, còn phần đứng trước bổ nghĩa. Ví dụ: “Chân tánh Bồ-đề” nghĩa là Bồ-đề trên phương diện chân tánh. Đến phần dưới cũng thế, cần cẩn thận với thứ tự khi đọc các thuật ngữ.

“Chân tánh Bồ-đề” tức là tự tánh chân như. Chân như là lý. Lý này là Phật tánh bản giác ở tự tâm, cũng chính là tánh “nhất chân bình đẳng”. Chúng sanh và Phật không hai. Chúng sanh mê lý này, chư Phật chứng lý này. Chứng đến cùng cực lý này thì pháp thân hiển hiện, gọi là pháp thân đức.

“Thật trí Bồ-đề” tức là trí chân thật. Là chỗ chứng căn bản trí thấu triệt nguồn gốc nhất tâm, xứng với lý chân như, hiện ra thành báo thân tự thọ dụng. Trí này soi chiếu lý, không lý nào là không thấu suốt, nên cũng gọi là lý trí, hoặc thật trí. Dùng trí chân thật soi chiếu lý bản giác, gọi là Bát-nhã đức.

“Phương tiện Bồ-đề” tức là phương tiện quyền xảo. Tự giác đã viên, sau đó giác tha, từ căn bản trí khởi lên hậu đắc trí, hiện ra báo thân tha thọ dụng, thuyết pháp cho hàng đại căn cơ. Lại tùy các loại căn cơ mà hiện ứng hóa thân, thành tựu các sự nghiệp độ sanh tương ứng. Vì thế gọi là sự trí, hoặc cũng gọi là quyền trí. Các thứ thị hiện đều tự tại vô ngại, tức giải thoát đức.

Như thế, Phật chứng ba đức, đủ ba thân, thành tựu ba thứ Bồ-đề.

Ba đoạn này được viết theo cấu trúc song song và tương phản, mình còn hỗ trợ thêm bằng cách in nghiêng những từ quan trọng. Nên từ đoạn trước có thể truy xét đến đoạn sau, từ đoạn sau có thể suy ngược lại đoạn trước mà hiểu.

A-nan hối hận pháp Tiểu thừa không đủ lực địch ma, nên nghĩ đến việc tu pháp tối thượng nhất thừa. Đây chính là tâm hồi Tiểu hướng Đại, nên mới có lời thỉnh cầu này.

Mậu hai – Hội chúng lắng lòng nguyện nghe

Lúc ấy, Hằng sa Bồ-tát, đại A-la-hán, Bích-chi Phật, v.v. từ mười phương, đều mong mỏi nguyện được nghe. Tất cả lui về chỗ ngồi, lắng lòng kính vâng Thánh chỉ.

“Lúc ấy”, tức lúc A-nan thỉnh cầu Phật định. Pháp thành Phật là điều cả ba thừa cùng ngưỡng vọng. Nên kinh nói Hằng sa Bồ-tát, La-hán, Bích-chi, cùng thiên long bát bộ, vua, quan, trưởng giả, cư sĩ, v.v. đều mong mỏi nguyện được nghe. Như kinh Hoa Nghiêm nói:

“Như người khát nghĩ đến nước mát,
Như người đói nghĩ đến thức ăn ngon,
Như người bệnh nghĩ đến thuốc hay,
Như đàn ong nương nơi chứa mật.
Chúng con cũng như vậy,
Nguyện nghe pháp cam lộ!”

Tất cả lui về chỗ ngồi, lắng lòng: Thỉnh pháp ắt phải đầy đủ lễ nghi. Sau lời thưa thỉnh, tất cả lui về đúng chỗ mà ngồi, dứt tâm suy lự, yên lặng lắng nghe.

Người nghe mong mỏi chăm chú, hăng hái hớn hở, như người khát đợi được uống nước, một lòng nhập tâm vào lời nói và nghĩa lý. Người như vậy, mới có thể vì họ mà nói pháp.

Kính vâng Thánh chỉ: kính cẩn vâng nhận ý chỉ Thánh giáo của đấng Pháp vương.

“Đinh một – A-nan thỉnh định” hết.

* Văn kinh Việt dịch

Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *