CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 16

Như Lai đáp định – Chánh thuyết – Chỉ tổng danh
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Kỷ một – Chỉ Phật định tổng danh, khiến biết chư Phật, tu nhân chứng quả
Bấy giờ, Thế Tôn ở giữa đại chúng, duỗi cánh tay sắc vàng, xoa đỉnh đầu A-nan, bảo A-nan và đại chúng rằng:
“Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm. Nay ông hãy lắng nghe!”
A-nan đảnh lễ, cúi mình vâng nhận pháp chỉ.
Đoạn văn này, trong các bản lưu thông hiện nay đều không đặt ở đây. Mà nằm ở phần phá chấp “tâm ở trong thân”, chỗ sau khi nêu ví dụ biện định:
Phật hỏi A-nan:
“Do đâu mà ông thấy được vườn rừng?”
“Thưa Thế Tôn, đại giảng đường này cửa nẻo mở rộng, nên con ở bên trong vẫn thấy được ngoài xa.
[Đoạn văn trên được đặt ở đây. Sau đó Phật dùng ví dụ để hỏi vặn lại:]
Phật bảo A-nan:
“Như lời ông nói, thân tại giảng đường, do cửa mở rộng nên thấy vườn rừng ngoài xa. Vậy có chúng sanh nào ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai mà lại thấy cảnh ngoài chăng?”
A-nan đáp:
“Thưa Thế Tôn, ở tại giảng đường không thấy Như Lai, mà lại thấy được rừng suối bên ngoài, thật không có lý.”
“A-nan, chính ông thế đấy!”
Xét kỹ đoạn văn này nằm chen ngang ở giữa, đối với hai đoạn trước sau hoàn toàn không có mảy may quan hệ, trái lại còn khiến mạch văn bị cắt đứt. Phật nói pháp, tuyệt đối không thể trong lúc hỏi đáp dang dở, lại đột nhiên tuyên bố tên của đại định. Đây là điểm thứ nhất.
Thêm nữa, A-nan thỉnh Phật dạy đại định mà mười phương chư Phật nhờ đó thành tựu Bồ-đề. Vì không biết Phật định có tên riêng, nên dùng tên của ba thứ định thông thường mà mình biết, thêm một chữ “diệu” để phân biệt, rằng đây là định của chư Phật, không phải các thứ định mà ba thừa đang tu.
Phật vừa nghe liền biết A-nan không biết tên của Phật định, nên trước hết bảo rằng:
“Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm. Nay ông hãy lắng nghe.”
A-nan đảnh lễ, cúi mình vâng nhận pháp chỉ.
Như vậy thì lời thỉnh và lời đáp mới hợp nhau: Trước hết Phật chỉ tổng danh của định (tổng nhiếp ba thứ định kia thành một tên), hứa sẽ nói và răn dạy hãy lắng nghe. Sau đó lần lượt đáp ba tên. Mà chỗ hỏi “khi mới phát tâm” chính là thầm chỉ phương tiện bắt đầu.
Nếu đem đoạn chỉ tổng danh này đặt ở phần phá chấp tâm ở trong thân, thì mạch hỏi đáp, thỉnh hứa ở đây không được tiếp tục; còn ở chỗ phá chấp kia thì ý văn trên dưới bị ngăn cách. Đây là điểm thứ hai.
Các bậc Hiền xưa nay không hẳn là không thấy điều này. Nhưng vì tôn trọng kinh, nên dù biết rõ là lỗi trong quá trình biên chép lưu truyền, vẫn không dời đổi. Tôi không kiêng tránh tội lớn ngập trời, chỉ cầu cho nghĩa kinh và ý văn được thông suốt. Hiểu tôi hay trách tôi, xin để cho các bậc có mắt nhận xét. Nay giảng nghĩa đoạn văn trên như sau:
“Bấy giờ”, tức là lúc A-nan vừa thỉnh định xong. Thế Tôn ở giữa đại chúng, duỗi cánh tay sắc vàng (toàn thân Phật có màu sắc như vàng Diêm-phù-đàn, nên cánh tay cũng thế), xoa đỉnh đầu A-nan: biểu thị ý từ bi nhiếp thọ.
A-nan đã có thể hồi Tiểu hướng Đại, phát tâm Vô thượng Bồ-đề, thỉnh cầu đại định của chư Phật, nên Phật bảo A-nan và đại chúng rằng: “Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương”. Đây là tổng danh của Phật định.
“Tam-ma-đề”, cũng phiên âm là “Tam-ma-địa”, có nghĩa đẳng trì. “Đẳng” là định tuệ quân bình, “trì” là gìn giữ tự tánh. Cũng là tên gọi chung của định. Còn Phật định thì tên là “Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương”, thâu ba tên định riêng rẽ Sa-ma-tha – Tam-ma – Thiền-na thành một tên tổng của Phật định.
Lại còn gọi là tam-muội (chánh định), vì định này xứng với chánh lý chân như mà khởi. Không lay động, không sanh diệt, thấu tận nguồn đáy của dòng pháp, là vua trong các thứ tam-muội, tên Đại Phật Định Thủ-lăng-nghiêm Vương. Có thể sanh ra hết thảy tam-muội, như Như Ý Bảo Luân Vương có thể tuôn mưa có hết thảy tài bảo.
Về “Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm” thì đã giải thích ở phần nhan đề.
Đầy đủ muôn hạnh: Thủ-lăng-nghiêm Vương không những sẵn đủ tất cả tam-muội, mà còn sẵn đủ muôn hạnh. Nơi nhất chân trong lặng có đủ sáu ba-la-mật, chỗ gọi là “tràng địa nhất thừa tịch diệt”—không tham, không nhiễm, không sân, không lười, không động, không hôn trầm. Thế chẳng phải là đầy đủ sáu ba-la-mật ư? Đã đủ sáu ba-la-mật thì muôn hạnh ắt đều ở trong đó.
Tham, nhiễm, sân, lười, động, hôn trầm lần lượt đối lại với bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm:
Bài kệ của ngài Văn-thù rằng: “Quá khứ chư Như Lai, môn này đã thành tựu.” “Môn này”, tức pháp môn dùng căn tánh, cũng tức là diệu nhĩ môn Văn Huân Văn Tu Kim Cang Tam-muội, cũng chính là cửa vào ngôi nhà đẹp mà A-nan thỉnh hỏi. Như Lai vì lời thưa thỉnh mà khai mở đường tu thần diệu vô thượng thừa.
“Siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm”, tức là nhanh chóng hướng đến biển quả trang nghiêm mầu nhiệm, bằng con đường Bồ-đề chân chính, qua 55 ngôi vị. Vì dùng định tuệ của chính tự tánh để trang nghiêm tự tánh, nên gọi là “diệu trang nghiêm”.
Phật dặn A-nan và đại chúng hãy lắng nghe. A-nan đảnh lễ, cúi mình vâng nhận pháp chỉ tuôn ra từ tâm đại từ của Như Lai.
Người trên thương người dưới thì xoa đỉnh đầu. Người dưới kính người trên thì lễ xuống chân. Đem đỉnh đầu là chỗ tôn quý nhất của mình, lễ xuống bàn chân là chỗ thấp nhất của Như Lai, gọi là “đỉnh lễ”.
Trên thương dưới kính, đủ thấy nơi hội Lăng-nghiêm, thầy trò khế hợp, thật đáng làm tấm gương tốt đẹp cho muôn đời!
Phần chỉ tổng danh của đại định thành Phật, khiến biết chỗ tu nhân chứng quả của chư Phật, đến đây đã xong.
