CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 17

Thuyết đường Sa-ma-tha – Gạn hỏi, phán định

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Kỷ hai – Thuyết đường Sa-ma-tha, khiến ngộ mật nhân, đại khai viên giải

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Tý một – Gạn hỏi thấy tướng phát tâm

Phật bảo A-nan:

“Ông với tôi cùng chung huyết thống, tình đồng thiên luân. Khi mới phát tâm, ông thấy có gì hay trong Phật pháp mà xả bỏ được ân ái sâu nặng thế gian?”

Vì A-nan thỉnh hỏi “phương tiện bắt đầu”, nên ở phần khoa này, Như Lai gạn hỏi lúc mới bắt đầu phát tâm. Cần biết, phương tiện bắt đầu nằm ở ngay cái tâm phát khởi lúc đầu. Tỏ ngộ được chân tâm không sanh diệt, nương vào đó làm nhân tu, tức chính là phương tiện bắt đầu. Nhưng vì tâm có chia chân – vọng, chưa biết A-nan khi mới phát tâm nương vào bên nào, nên mới có câu hỏi này. Chỉ cần thăm dò một câu là ra ngay!

Trước tiên thuật về tình nghĩa thế gian để an ủi, nhân vì A-nan vừa qua cơn khóc lóc, tủi hổ.

A-nan là con vua Bạch Phạn, một trong tám người con của bốn vị vua, nên là em con chú với Phật. Vì cùng chung khí mạch tổ tiên (cụ thể là chung ông nội), nên nói “cùng chung huyết thống”.

Theo thế giáo, quan hệ cha mẹ con cái và anh em trong nhà là do trời hợp thành, nên Phật bảo A-nan rằng: Ông với tôi đã cùng chung huyết thống tổ tiên, thế thì tình thân ấy cũng đồng như thiên luân, không khác gì anh em ruột thịt.

Sau đó hỏi về việc phát tâm.

Phàm người phát tâm xuất gia, ắt phải có chỗ thấy. Thế nên Phật hỏi A-nan: Thuở ban đầu quyết định phát tâm xuất gia, đối với Phật pháp của tôi, ông thấy có tướng gì hay mà liền xả bỏ được ân đức sâu dày của cha mẹ, tình ái nặng nề với vợ con nơi thế gian?

Nếu không thấy Phật pháp thù thắng, ắt chẳng thể cắt đứt ân ái mà xuất gia làm Tăng!

Chỗ này Phật tuy hỏi “thấy tướng gì hay” (sở kiến), nhưng thật ra là muốn dò “tâm năng kiến” của A-nan.

A-nan bạch Phật:

“Con thấy Như Lai, ba mươi hai tướng thù thắng nhiệm mầu, không gì sánh được. Hình thể sáng trong, như ngọc lưu ly.

Đây là A-nan dựa trên sự việc mà đáp thẳng.

Ba mươi hai tướng: Những tướng này được trang nghiêm bởi hàng trăm phước của Phật. Tại nhân, tu trăm phước; đến quả, thành một tướng. Bắt đầu từ tướng nhục kế, cuối cùng đến tướng lòng bàn chân bằng phẳng đầy đặn. Chi tiết trong Tam Tạng Pháp Số.

Tại nhân tu trăm phước, đến quả thành một tướng: Mỗi tướng tốt của Phật đều là quả báo trang nghiêm từ vô lượng công đức phước thiện, được tích lũy khi còn ở nhân địa.

Thù thắng nhiệm mầu, không gì sánh được:

  • Vua Chuyển luân không bì kịp, nên thù thắng.
  • Mỗi tướng đều hiện rõ, nên nhiệm mầu.
  • Thù thắng nhiệm mầu đến tột bậc, nên vượt hơn mọi loài, không gì sánh được.

Hình mạo bên ngoài, thể chất bên trong đều sáng rỡ trong ngần. Lưu ly là ngọc báu màu xanh, trong ngoài óng ánh, sáng trong. Thân Phật cũng như vậy, nên dùng lưu ly để ví.

Thường tự suy nghĩ, tướng ấy không thể do ái dục sanh. Tại sao vậy? Dục khí nhơ nhớp, giao hợp tanh hôi, máu mủ xen tạp, làm sao sanh được thân thể thắng tịnh, tụ ánh sắc vàng, quang minh nhiệm mầu! Nên con khát ngưỡng, cạo bỏ râu tóc, theo Phật xuất gia.”

Thường tự suy nghĩ: Cái suy nghĩ này là thức thứ sáu (ý thức), hay suy tưởng phân biệt, cũng chính là vọng tâm. Chỗ gọi là căn bản sanh tử từ vô thủy! A-nan trước nay lầm nhận là chân thật, thường dùng tâm này, nên nói “thường tự suy nghĩ”.

“Tướng ấy” là chỉ ba mươi hai tướng của Phật, đều do huân tu giới – định – tuệ mà thành, nên không phải do ái dục sanh ra. “Tại sao vậy” trở đi là tự đặt câu hỏi và giải thích lý do.

Dục khí nhơ nhớp: khí chất, đặc tính của dục ái là nhơ nhớp.

Giao hợp tanh hôi: giải thích nghĩa “nhơ bẩn”.

Máu mủ xen tạp: giải thích nghĩa “nhớp nháp”.

Cho nên không thể sanh ra thân tướng trang nghiêm của Phật.

Thanh tịnh đến cùng tột, nên viết là “thắng tịnh” (sự thanh tịnh thù thắng).

Toàn thân Phật là sắc vàng Diêm-phù-đàn sáng rỡ, tụ lại như ngọn núi vàng, nên viết “tụ ánh sắc vàng”.

Quang minh không gì sánh bằng, nên ghi “nhiệm mầu”.

Do đó A-nan sanh lòng khát ngưỡng, theo Phật cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo.

Cái tâm phát khởi này chính là tâm phan duyên mà Phật sẽ phá ở văn sau. Không phải phá việc phát tâm xuất gia là không tốt, mà phá ngay chỗ thấy tướng rồi phát tâm.

Như kinh Viên Giác nói: “Bỏ chỗ ái luyến, ưa thích xả bỏ, thế thì lại càng nuôi lớn gốc ái.” Vậy đâu thể gọi là trọn lành? Hơn nữa, nhận đây là tâm mình, không biết đến chân tâm, thì đại định Lăng-nghiêm biết nương vào đâu để tu?

Phật đã dò ra được nguồn bệnh của A-nan, nên ở sau sẽ tiếp tục gạn hỏi rồi triệt phá. Chính vì muốn dẹp bỏ chướng ngại trên đường Sa-ma-tha vậy!

Tý hai – Phán chung chúng sanh ngộ nhận

Phật nói:

“Hay thay, A-nan! Các ông nên biết: Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp, đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh, chỉ dùng vọng tưởng. Vọng tưởng không thật, vì thế luân chuyển.

Phật khen A-nan “hay thay” có hai ý:

  • Đã tìm được nguồn bệnh, có thể theo đó mà thí giáo.
  • Sắp sửa quở phá, nên trước tiên an ủi.

Tiếp đó quay ra đại chúng, nói lời phán định rộng chung cho tất cả. Chỗ này chân – vọng cùng nêu, phán định rõ ràng, ý muốn đương cơ lấy chân bỏ vọng, dùng đó làm phương tiện bắt đầu.

Các ông nên biết: phải dùng trí mà biết, chứ không thể dùng thức.

Hết thảy chúng sanh: bao gồm cả phàm – ngoại – Quyền – Tiểu. Từ vô thủy vô minh vọng động đến nay, y hoặc tạo nghiệp, y nghiệp thọ báo. Từ cái thân quả báo, lại khởi hoặc tạo nghiệp, lại theo nghiệp thọ báo. Sanh rồi tử, tử rồi sanh, nối tiếp không dứt.

Vì cớ sao?

Đều do mê, nên sanh tử không ngừng. “Không biết” tức là mê. “Chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh” chính là cái bị mê mất.

Cùng tận ba đời, không sanh không diệt, gọi là “thường trụ”. Pháp giới nhất tướng, không giả không hư, viết là “chân tâm”.

Pháp giới nhất tướng: Tức tướng chân thật của pháp giới. Bản lai xa lìa tướng hư vọng, tướng ngôn ngữ, tướng danh tự, cho đến hết thảy tướng, nên gọi là nhất tướng.

Tánh tịnh: xưa nay thanh tịnh không nhiễm, không phải mượn gột rửa rồi mới thanh tịnh.

Tánh minh: xưa nay linh minh không mờ tối, không phải nhờ công dụng rồi mới sáng soi.

Thể: tức là cái thể vốn thanh tịnh, sáng suốt của chân tâm; tâm này tuy mê, thể vẫn không mất.

“Vọng tưởng” là vọng tâm ý thức mà chúng sanh chấp giữ, cũng chính là cái tâm “thấy tướng rồi suy nghĩ” ở văn trước, và là cái “bóng dáng phân biệt các duyên trần” ở văn sau.

Còn câu “vọng tưởng không thật, vì thế luân chuyển”, về sau Phật bảo A-nan rằng:

“Đó chỉ là cái tưởng đến tướng hư vọng của tiền trần, khiến ông mê mờ chân tánh. Do ông từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm con, bỏ mất tánh nguyên thường, nên chịu luân chuyển.”

Ý nói cái tưởng đó không phải chân tâm, nhưng chúng sanh lại lầm nhận. Bị nó dối gạt, nên phải chịu luân hồi lưu chuyển, trôi nổi trong biển khổ sanh tử, vô số kiếp không thể ra.

Thêm nữa, trong hai thứ căn bản ở văn sau, “chân tâm thường trụ” là chân bản—Bồ-đề Niết-bàn, thể vốn thanh tịnh. Còn “chỉ dùng vọng tưởng” là vọng bản—căn bản sanh tử từ vô thủy.

Hết thảy chúng sanh vì mê chân nên chấp vọng. Khởi vọng hoặc, tạo vọng nghiệp, chịu vọng báo, cho nên luân chuyển không ngừng!

“Quý một – Gạn hỏi và phán định” hết.

* Văn kinh Việt dịch

* Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *