CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 18

Chính thức quở phá – Phá vọng thức không nơi chốn
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Dần một – Dạy ngay thẳng đáp lời
Nay ông muốn cầu Vô thượng Bồ-đề, phát minh chân tánh, thì phải ngay thẳng đáp lời tôi hỏi. Mười phương Như Lai cùng chung một đường, thoát ly sanh tử đều do tâm ngay thẳng. Tâm địa và lời nói ngay thẳng, nên địa vị từ đầu đến cuối, suốt khoảng giữa không bao giờ có tướng quanh co.
Phần này Phật muốn quở phá cái tâm hư vọng của A-nan, nên trước hết dạy A-nan phải dùng tâm ngay thẳng để đáp lại các câu hỏi.
Muốn cầu đạo Vô thượng Bồ-đề, nhất định phải phát minh căn tánh không dao động, không sanh diệt, sẵn đủ nơi mình. Được vậy thì mới có thể mong thành tựu cực quả.
“Phát” là khai phát. “Minh” là tỏ rõ. “Chân tánh” là tánh trong sáu căn, cũng chính là tánh Như Lai Tạng. Tánh này là thể của định Lăng-nghiêm. Nếu thật phát minh được tánh ấy, thì khai mở được viên giải. Còn nếu viên giải không khai, viên hạnh không khởi, viên định không chứng, thì cực quả viên mãn Bồ-đề làm sao mong thành tựu được?
Đây chính là Như Lai thầm chỉ bày phương tiện bắt đầu của định!
Thêm nữa, phát minh tức là vi mật quán chiếu, khai giải và tỏ rõ. Tánh này là thể định tự nhiên, tức Sa-ma-tha. Nương giải khởi hạnh, một môn thâm nhập, tức là Tam-ma. Định tuệ quân bình, trung trung lưu nhập, tức là Thiền-na. Ba thứ định không ngoài một tâm.
Ba cái tên này được nhắc đi nhắc lại qua nhiều ngữ cảnh, một là để cho thấy tầm quan trọng, hai là để những người chưa hiểu có thêm cơ hội được khai giải!
Nếu là người thượng căn lợi trí, thấy tướng thù thắng của Như Lai, không vướng vào sở kiến phân biệt nhiễm tịnh, mà ở nơi năng kiến nhận được chút đầu mối, không nhận vọng thức làm tâm, thế thì ngay đó cuồng tâm liền hết, hết tức Bồ-đề!
Ngay thẳng đáp lời tôi hỏi: Do A-nan thấy tướng rồi suy nghĩ, phân biệt nhiễm tịnh, nơi tánh y tha khởi lại khởi thêm tánh biến kế chấp, hoàn toàn giống với tình kiến của phàm phu, chính thuộc căn bản sanh tử. Vì thế Phật dạy dùng tâm ngay thẳng để đáp lời, muốn khiến A-nan bỏ biến kế chấp mà nhận lấy viên thành thật.
Y tha khởi, biến kế chấp, viên thành thật, là các khái niệm của hệ Duy Thức, gọi là “tam tự tánh” (ba tính chất, trạng thái nhận thức). Diễn giải chi tiết cho bạn nào cần:
Y tha khởi: một pháp/sự việc không tự có, nương các duyên (y tha) mà hiện khởi.
Sự việc ở đây là A-nan thấy tướng tốt của Phật. Cái “thấy tướng” này cần có đủ duyên: ánh sáng, con mắt, tướng tốt của Phật,…
Biến kế chấp: trên cái cảnh do duyên hiện ấy, tâm mình tính toán, phân biệt, gán ý nghĩa,… rồi chấp đó là thật.
Chính là chỗ A-nan thường tự suy nghĩ: tướng tốt của Phật không do ái dục sanh, dục ái nhơ nhớp,… nên muốn theo Phật xuất gia.
Viên thành thật: ở nơi pháp y tha khởi, không khởi biến kế chấp, thì ngay đó nhận được tánh viên thành thật.
Theo như đây thì là câu “ở nơi năng kiến nhận được chút đầu mối, không nhận vọng thức làm tâm, thế thì ngay đó cuồng tâm liền hết, hết tức Bồ-đề!”
Cũng nên biết, Phật muốn khiến bỏ biến kế chấp, chính là phá vọng tâm phân biệt, chứ không phải trách A-nan chấp vào ba mươi hai tướng, duyên theo đó phát tâm xuất gia. Xem văn sau có thể biết, toàn là quở trách lỗi dùng thức, chứ Phật không đem ba mươi hai tướng hay việc xuất gia ra phá. Tóm lại là phá thức chứ không phá tướng!
Vậy vì sao trong Lăng-nghiêm lại chọn gạn hỏi cái tâm xuất gia để quở phá?
Một vì cái vọng tâm này, rời công dụng thì không có tướng, biết nắm vào đâu để phá?
Hai vì, nếu đem tâm ác ra phá thì e người ta chấp giữ tâm thiện. Nay cái thắng thiện như phát tâm xuất gia còn phải buông bỏ, chẳng lẽ còn giữ lại tâm xấu ác ư?
Nói đến đây, sợ những người chưa ngộ lại quay ra trách Lăng-nghiêm bài trừ tâm thiện, nên đành nhắc lại: Phá trừ tâm thiện không phải vì làm thiện là lỗi, mà lỗi ở chỗ chấp cái vọng tâm (vốn là công dụng) ấy, cho là chân thật. Vô biên sanh tử đều nằm ở một lỗi này! Bởi thế, làm thiện thì phải lên trời, làm ác thì xuống địa ngục. Chính chỗ Phật nói ở văn trước: Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp, v.v..
Phải biết, vọng tâm chưa trừ thì quyết không thể đặt chân vào cửa đại định Lăng-nghiêm!
Tâm ngay thẳng thì không che giấu, không hư giả; là chánh niệm chân như, cũng chính là đạo tràng. Vì thế nêu “mười phương Như Lai cùng chung một đường” làm bằng chứng. “Một đường” tức là đường tâm ngay thẳng, nên vế sau nói: ra khỏi sanh tử đều do tâm ngay thẳng.
Tâm ngay thẳng thì lời nói cũng ngay thẳng, vì lời nói là âm vang từ tâm. Có cả hai làm nhân địa ngay thẳng, y nhân cảm quả, nhân quả ứng hợp, nên địa vị từ chỗ bắt đầu đến khi rốt ráo, trong suốt khoảng giữa không bao giờ có tướng quanh co.
Lấy “phát tâm” làm điểm bắt đầu, “cứu cánh” làm điểm rốt ráo. Khoảng giữa trải qua các địa vị đều trung trung lưu nhập, không chấp hai bên, nên không bao giờ có tướng quanh co. Đây chính là quả ngay thẳng! Còn nếu nhân địa không chân thật, thì khó tránh khỏi kết quả gặp đường quanh co.
Từ đây Lăng-nghiêm bắt đầu vào mạch lý luận. Nếu không chịu khó đọc kĩ, ngẫm kĩ, thì khó lòng thành tựu Sa-ma-tha vi mật quán chiếu. Khi ấy sự tu sẽ đi trên đường quanh co khúc khuỷu, trải bụi kiếp cũng chưa thấy điểm đến. Còn nếu vượt qua được bước đầu này, khai giải tỏ rõ mật nhân, sẽ tự thấy đường về nhà thẳng tắp, suốt khoảng giữa không bao giờ có tướng quanh co!
Dần hai – Hỏi năng kiến, năng ái
A-nan, nay tôi hỏi ông: Đương lúc phát tâm, duyên ba mươi hai tướng của Như Lai, ông lấy cái gì để thấy? Cái gì yêu thích?”
Ở đây hỏi cả hai: cái năng thấy và cái năng yêu thích. Như Lai chính muốn xét cho ra: A-nan lấy cái gì làm cái có thể thấy, cái gì có thể sanh lòng yêu thích. Sau khi xác định rõ rồi, mới có thể theo đó mà phá.
Phàm phu mê lầm, chỗ thủ xả phần nhiều đều điên đảo: lấy mắt thịt làm cái năng thấy, cho yêu thích là tâm chân thật của mình. Xem chỗ A-nan trả lời phía dưới thì biết.
Trong câu này, Phật hỏi “lấy cái gì để thấy” là muốn A-nan nhận ra tánh thấy chân thật, còn “cái gì yêu thích” là muốn A-nan thấu rõ vọng tâm. Tiếc rằng A-nan không thể lãnh hội được.
A-nan bạch Phật:
“Thưa Thế Tôn! Sự yêu thích như vậy là do tâm và mắt. Mắt thấy thắng tướng, tâm sanh yêu thích. Nên con phát tâm, nguyện xả sanh tử.”
Được Phật hỏi, A-nan liền bạch rằng: Sở dĩ con có sự yêu thích như thế là do tâm và mắt.
Câu kế phân giải ra:
- Mắt thấy thắng tướng: Đây rõ ràng nhận cái thấy thuộc mắt.
- Tâm sanh yêu thích: Đây rõ ràng nhận thức làm tâm.
Hoàn toàn giống với cái mê điên đảo của phàm phu: bỏ quên chân, chấp lấy vọng.
Sau khi tra ra chỗ lấy bỏ của A-nan, dưới đây Như Lai phá thức hiển căn. Văn kinh chiếm một quyển rưỡi, đều lấy hai câu này của A-nan làm căn cứ mở đầu.
Nên con phát tâm, nguyện xả sanh tử: Do thấy tướng rồi sanh lòng yêu thích, nên phát tâm xuất gia, nguyện xa lìa xả bỏ sanh tử.
Chí nguyện ấy có thể nói là không sai. Nhưng không biết rằng, cái tâm yêu thích đó chính là gốc sanh tử, tức vọng bản trong hai thứ căn bản ở văn sau—dùng tâm phan duyên làm tự tánh.
Thêm nữa, căn và thức khó phân, hàng phàm phu ngu muội không thể biện định. Tánh năng thấy ở nơi mắt chính là chân bản Bồ-đề, cũng là thể Sa-ma-tha. Trong đời sống hằng ngày, nó vẫn đang phóng quang động địa. Chúng ta suốt ngày nương nhờ ân lực của nó, nhưng không biết chính nó là chủ nhân ông (tức chân tâm). Trái lại, nhận cái thấy thuộc mắt. Rốt cuộc lấy sự yêu thích làm tâm. Đây chính là mê chân nhận vọng, chấp vọng là chân!
Dần ba – Tâm và mắt ở đâu?
Phật bảo A-nan:
“Như lời ông nói, yêu thích thật do tâm và mắt. Nay nếu không biết tâm và mắt ở đâu, thì không thể hàng phục trần lao.
Ở đoạn trên, cách Như Lai xét hỏi đều là phương tiện cao sâu để gợi nhắc A-nan: Lấy cái gì để thấy? Cái gì yêu thích?
Nếu A-nan có thể hướng nơi năng kiến, nắm được chút đầu mối, thì việc lớn đã xong!
Đáng tiếc, A-nan vẫn chưa lìa được cái thấy thường tình, chỉ biết hợp với trần, không biết hợp với giác. Đáp rằng: “Do mắt thấy tướng, tâm sanh yêu thích.” Như vậy đối với cả tâm và mắt đều mê lầm, thật phụ lòng Thế Tôn quá lắm!
Theo bạn, đáp đúng thì phải thế nào? Nếu chưa nghĩ ra, cứ ôm lấy câu hỏi này trong khi học. Như trên nói, nguyên phần phá thức hiển căn đều lấy chỗ này để khai phát!
Ở đây, Phật muốn tiến hành phá chấp, nên trước hết xác nhận lại lời A-nan: Như lời ông nói, sự yêu thích như thế đích thị là do tâm và mắt. Vậy thì phải biết tâm và mắt ở đâu.
Câu kế là nói ngược lại: Nếu không biết thì không thể hàng phục trần lao.
“Trần” có nghĩa nhiễm ô, “lao” có nghĩa nhiễu loạn. “Trần lao” là gồm cả phiền não căn bản và phiền não chi mạt (cành ngọn).
“Tâm” ở đây là sáu thức, còn “mắt” là mắt thịt. Mắt thịt là sắc pháp vô tri, vốn không có cái thấy, nhưng chúng sanh phần nhiều lại nhận cái thấy thuộc mắt. Thức tâm là vọng bản sanh tử, vốn không phải chân tâm, nhưng chúng sanh phần nhiều lại nhận thức làm tâm.
A-nan đã chấp tâm và mắt như thế, nên Phật muốn tìm chỗ của chúng để phá đi. Vì vậy bên dưới nêu ví dụ quốc vương đánh giặc.
Ví như quốc vương, bị giặc xâm lấn, phát binh đánh dẹp. Quân lính phải biết, giặc ở chỗ nào.
“Quốc vương” dụ cho bản giác chân tánh.
“Giặc” dụ cho sáu thức vọng tâm.
Mắt làm môi giới cho giặc, dẫn thức rong ruổi theo cảnh.
Giặc trong mưu phản, tiếm hiệu xưng vương, nên vua bị giặc xâm lấn. Cũng vậy, vọng tâm khuấy nhiễu, làm loạn bản chân, nên chân bị vọng che lấp.
Nay muốn phát binh đánh dẹp, đội quân ấy nhất định phải biết giặc ở đâu, mới có thể đánh thẳng vào sào huyệt, bắt được đầu sỏ, khiến quốc thái dân an. Nếu không biết chỗ ở của giặc thì chỉ uổng phí quân lương vô ích.
“Quân lính” dụ cho diệu trí thủy giác. Hoàn toàn nhờ vào công của thủy giác mà hàng phục được giặc.
Xưa có vị Tăng hỏi thiện tri thức rằng: “Giặc trong nhà khó phòng giữ, khi ấy phải thế nào?”
Đáp: “Biết được nó thì không thành oan gia!”
Lại chuyện khác:
Thiền sư Tử Hồ Tung ban đêm bỗng la lớn: “Có giặc! Có giặc!”
Đồ chúng thức dậy đuổi bắt. Ngài nắm lấy một người, nói: “Bắt được một tên rồi!”
Người ấy thưa: “Không phải, là con đây.”
Ngài buông ra, nói: “Phải thì phải, chỉ là không chịu gánh vác!”
Nếu có thể gánh vác được, thì giặc tức là con. Còn nếu không thể gánh vác, thì con trở lại thành giặc. Cách nói này, so với ví dụ quốc vương đánh giặc ở đây, lại là một tầng vận dụng khác. Người có trí nên tự phân biệt.
Trong nhà Thiền, lời ít ý nhiều, toàn âm thầm chỉ bày những chỗ vượt ngoài ngôn ngữ. Vừa mở lời giải thích là đã phải rơi vào một mặt, không thể nói đủ các mặt khác. Như câu “biết được nó thì không thành oan gia” có một cách hiểu là: vọng tâm khởi lên, thấy biết được nó, thì nó không sai sử mình được. Nhưng không loại trừ nghĩa: nếu biết chỗ ở của giặc, ắt diệt trừ được, chẳng đến nỗi để nó thành oan gia trong sanh tử. Chọn hiểu theo nghĩa nào là tùy cơ phong của người hỏi và người đáp khi ấy, cũng như người học hiện tại.
Nhưng nếu để yên không giải thích, thì người mới học không có chút manh mối nào để nắm lấy, nên xin tạm chia sẻ cách hiểu của mình để bạn tham khảo.
Câu cuối: “Phải thì phải, chỉ là không chịu gánh vác!” Tức là: “Là con”, phải thì đúng là phải, nhưng mấu chốt là có gánh vác, có nhận lấy được chỗ ấy hay không. Nếu nhận lấy được tự tâm chủ nhân ông, gánh vác sống với nó được, thì giặc không còn là giặc nữa, mà là “con”, tức là chính mình. Còn nếu không, thì chủ nhân trở lại làm giặc, chẳng phải thật chủ nhân.
Lý do ngài Viên Anh nói đây là tầng vận dụng khác, vì theo ví dụ quốc vương đánh giặc, chân – vọng phân biệt rõ ràng, không cùng một tánh, nên văn sau mới có việc phá vọng hiển chân. Còn muốn cùng tầng, thì phải đợi đến phần cuối của Sa-ma-tha, chỗ cuồng tánh tự hết, hết tức Bồ-đề!
Khiến ông lưu chuyển, lỗi do tâm mắt. Nay tôi hỏi ông: Tâm và mắt ấy, hiện đang ở đâu?”
Tiếp theo trên, đây Phật chỉ thẳng căn bản sanh tử, thức tâm là lỗi. Nói kèm theo “mắt”, vì mắt làm môi giới cho giặc. Môi giới và giặc nương nhau, nên khi trách phải nói liên đới.
Câu đầu nói rằng: Thứ khiến ông không ngừng lưu chuyển trong các đường, sanh tử qua các kiếp, lỗi chính ở tâm và mắt.
Đây là phá công năng thắng thiện của ý thức: duyên theo tướng tốt của Phật.
Ở trước hỏi “năng kiến, năng ái”, như bắt giặc thì truy dấu vết. Nay đã thấy dấu, chuẩn bị bắt giặc, nên Phật đặc biệt gạn hỏi: Tâm và mắt ấy, hiện đang ở đâu?
Đây là lần thứ nhất hỏi tâm!
Văn sau, A-nan xoay chuyển chỗ chấp, bảy lần đều sai. Lưu ý, đó không phải là bảy chỗ hỏi tâm, mà là bảy lần phá chỗ ở của tâm. Văn kinh chỉ có hai lần hỏi tâm. Lần thứ hai nằm ở đoạn quở vọng thức không phải tâm: “Mắt ông thấy, vậy ông lấy gì làm tâm, đối trước nắm tay của tôi?”
Câu hỏi ở đây nhắc cả tâm và mắt. Có người cho rằng, Phật đã hỏi cả hai, bên dưới tất nhiên cũng phá cả hai. Nhưng thật ra không phải vậy. Bản ý của Phật là gạn hỏi tâm, nói kèm theo mắt chỉ vì liên đới mà thôi.
Thêm nữa, vì tâm là thứ vô hình, sợ A-nan trả lời vòng vo trốn tránh, nên Phật mới hỏi kèm theo mắt—thứ có hình tướng, chỗ ở rõ ràng. Nhờ thế mà văn sau, A-nan trả lời: mắt ở trên mặt, còn tâm ở trong thân. Phật chính muốn buộc A-nan nói rõ chỗ ở của tâm, cũng như nói con mắt ở trên mặt. Tra ra chỗ chấp “tâm ở trong thân” rồi, Phật liền theo đó phá bỏ, không nhắc về mắt nữa. Vả lại con mắt rõ ràng ở trên mặt, có gì để phá đâu? Đủ thấy, mắt chỉ là nói kèm theo mà thôi.
Lại có một cách giải thích khác:
A-nan nhận cái thấy thuộc mắt, sự yêu thích làm tâm. Phật trách cả hai: lỗi là do tâm và mắt. Vậy sau khi phá tâm, hẳn cũng có phá mắt. Nhưng phải biết: Phá tâm là phá sạch toàn bộ cái vọng của nó, cho đến năm thứ công năng thắng thiện cũng không chấp giữ. Còn phá mắt chỉ là kèm theo, lược phá mà thôi.
Hoặc phá kèm trong khi phá thức, như: “Nếu mắt có thể thấy, thì khi ông ở trong phòng, cửa có thể thấy chăng? Vậy những người đã chết, mắt vẫn còn đó, lẽ ra vẫn thấy được vật.”
Hoặc lược phá trong phần hiển kiến, như lần hiển kiến thứ nhất nói: “Mắt là vật hiển sắc. Tánh thấy như vậy là tâm, chẳng phải mắt.”
Hoặc sau phần hiển kiến, phá hai thứ vọng kiến là biệt nghiệp – đồng phận.
Riêng ý này thì mình không đồng ý. Chỗ biệt nghiệp và đồng phận là lược phá phần vọng của chính tánh thấy, không liên quan tới mắt. Có thể người giải nhắm đến ý: vì có con mắt đeo nghiệp nên thấy ra cảnh biệt nghiệp.
Trong các đoạn văn ấy, hoặc phá kèm, hoặc lược phá, không chỉ khiến A-nan không nhận thức làm tâm, mà cũng không nhận cái thấy thuộc mắt.
Chỗ này bàn rộng, lại dính đến các phần sau, nên nếu bạn mới học lần đầu thì cứ tạm bỏ qua.
