CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 19

Bảy chỗ chấp đều sai – Chấp tâm ở trong thân

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Thìn một – A-nan viện dẫn mười loài cùng cho ở trong thân

A-nan bạch Phật:

“Thưa Thế Tôn! Hết thảy thế gian, mười loài dị sanh, đều cho rằng thức tâm ở trong thân. Ngay cả Như Lai, mắt hoa sen xanh, cũng ở trên mặt.

Đây là chấp tâm ở trong thân.

Vừa nghe Phật hỏi, A-nan bạch lại trả lời. Trước hết gọi Phật là Thế Tôn, sau đó trình bày chỗ chấp. Viện dẫn mười loài chúng sanh đều cho rằng như vậy, tự mình không chịu trách nhiệm.

Hết thảy thế gian: chỉ thế gian sáu phàm trong ba cõi.

Mười loài dị sanh: Trong mười hai loài chúng sanh, trừ đi hai loài: “vô sắc” không tán tiêu trầm, và “vô tưởng” tinh thần hóa thành cây, đất, đá. Hai loài này không có tâm và mắt để bàn đến. Mười loài còn lại, nghiệp báo và hình thể mỗi loài đều khác nhau, nên gọi là “dị sanh”.

Các loài ấy đều cho rằng thức tâm ở trong thân.

Mắt hoa sen xanh: mắt Phật thanh tịnh dài rộng, hình trạng như hoa sen xanh, nên dùng hình ảnh ấy để xưng tán.

Ngay cả Như Lai…: Chỗ này văn kinh thiếu câu chuyển. Ý là, về tâm thì mười loài chúng sanh đều cho rằng ở trong thân. Còn mắt thì rõ ràng ở trên mặt, ngay cả với Như Lai, đôi mắt như hoa sen xanh, cũng nằm trên mặt Phật.

Nay con quan sát, phù căn bốn trần, cũng chỉ ở mặt. Còn tâm hay biết, thật ở trong thân.”

Phù căn bốn trần: nghĩa là phù trần nhãn căn (nhãn căn thô phù hiển lộ ở ngoài, tức con mắt thịt), do bốn trần sắc – hương – vị – xúc tạo thành, không phải thắng nghĩa căn do bốn đại thanh tịnh hợp thành.

Về thắng nghĩa căn, nếu không phải thiên nhãn hay Thánh nhãn thì không thể thấy được.

A-nan kết lại: Nay con quan sát con mắt thịt là phù căn bốn trần này, cũng chỉ ở trên mặt con, không khác gì mắt Phật. Còn thức tâm hay biết, quả thật ở trong thân, cùng chung nhận định với mười loài chúng sanh.

Chính Mạch nói: “Chỉ vì một cái chấp này mà hết thảy chúng sanh bị giam cầm trong ngục bào thai, bị trói buộc trong thân xác thịt. Cho đến các thứ khổ hình nơi ba đường ác mà chúng sanh tự chấp giữ, tự vọng nhận, để rồi chịu vô lượng khổ, xoay vần không thể tự thoát; đều do cái chấp này làm gốc rễ sâu dày ngăn che.”

Chấp tâm ở trong thân là cái chấp căn bản. Sáu chỗ còn lại, chỉ vì nhất thời bị Phật phá đoạt ở đây, trong thế bị dồn ép mà chuyển sang chỗ chấp khác mà thôi.

Thìn hai – Như Lai dùng việc không thấy được trong thân để phá

Tỵ một – Nêu dụ biện định

Phật bảo A-nan:

“Hiện ông ngồi trong giảng đường, thấy rừng Kỳ-đà đang ở đâu?”

“Thưa Thế Tôn! Giảng đường thanh tịnh, cao lớn nhiều tầng này ở vườn Cấp Cô Độc. Nhìn ra rừng Kỳ-đà, thật ở ngoài giảng đường.”

Tiếp văn trên, đương cơ chấp rằng tâm ở trong thân, viện dẫn mười loài chúng sanh cùng chung nhận định, tự cho là đúng. Phật không phá thẳng như thế là sai, mà nương theo những việc hiện tiền trước mắt, lần lượt nêu ra để hỏi. Khiến A-nan theo sự việc mà đáp, chứ không biết dụng ý vì sao.

Trong văn có ba lượt vấn đáp:

  • Lượt thứ nhất ở đây: lấy thí dụ để xác định cảnh bên trong và bên ngoài.
  • Lượt thứ hai, từ “A-nan, ông ở trong giảng đường…” đến “mới thấy vườn rừng”: lấy thí dụ để xác định thứ tự thấy trước sau.
  • Lượt thứ ba, từ “Do đâu mà ông…” đến “thấy suốt ngoài xa”: lấy thí dụ để xác định lý do thấy được cảnh ngoài.

Phật nêu sự việc này làm thí dụ. Đến khi thí dụ được phân tách, xác định rõ ràng rồi, mới nương theo dụ mà hỏi vặn lại, khiến A-nan không còn chỗ để biện bạch. Thế mới thấy sự khéo léo trong cách thuyết pháp của Như Lai.

Phật bảo A-nan: “Hiện ông ngồi trong giảng đường của Như Lai.” Câu này thầm ví: tâm ở trong thân cũng như ông đang ở trong giảng đường này.

“Thấy rừng Kỳ-đà đang ở đâu?” Rừng cây do thái tử Kỳ-đà cúng dường, rõ ràng ở ngoài giảng đường. Phật cố ý hỏi là có thâm ý! Muốn A-nan tự xác định rồi chính miệng nói ra, để đến khi phá chấp, A-nan không còn chỗ trốn tránh.

A-nan đáp rằng: “Giảng đường thanh tịnh, cao lớn nhiều tầng này nằm trong vườn Cấp Cô Độc. Nhìn ra rừng Kỳ-đà, thật ở ngoài giảng đường.”

Giảng đường: nơi Thế Tôn thuyết pháp.

Thanh tịnh: hồng trần không đến được.

Cao lớn nhiều tầng: kiến trúc nhiều tầng mái hiên chồng lớp.

Nằm trong vườn Cấp Cô Độc: vườn này do trưởng giả Cấp Cô Độc trải vàng mua lại, nên lấy đó đặt tên.

Rừng Kỳ-đà thật ở ngoài giảng đường: thầm ví cho các pháp ở ngoài thân.

Đây là căn cứ theo chỗ thấy (sở kiến) mà phân định cảnh trong và ngoài.

“A-nan, ông ở giảng đường thấy cái gì trước?”

“Thưa Thế Tôn! Con ở giảng đường, trước thấy Như Lai, kế thấy đại chúng, sau trông ra ngoài mới thấy vườn rừng.”

“Ở trong giảng đường, trước hết nhìn thấy gì?” Đây cũng là Phật biết rõ nhưng cố ý hỏi, khiến A-nan tự mình nói ra.

“Trước tiên thấy Như Lai, kế đó thấy đại chúng”, câu này thầm ví rằng: nếu tâm ở trong thân, đáng lẽ trước hết phải thấy tim, gan, lá lách, dạ dày; kế đó biết móng mọc, tóc dài, gân chuyển, mạch động.

“Sau đó từ bên trong trông ra ngoài, mới nhìn thấy vườn rừng”, thầm ví: tâm ở trong thân, sau cùng trông ra ngoài mới thấy các cảnh ở ngoài thân.

Đây là căn cứ theo năng kiến mà phân định thứ tự thấy trước sau.

“Do đâu mà ông thấy được vườn rừng?”

“Thưa Thế Tôn! Đại giảng đường này cửa nẻo mở rộng, nên con ở trong, thấy suốt ngoài xa.”

Ví như năm căn, lỗ khiếu thông suốt, nên tâm có thể thấy biết cảnh ngoài.

Tỵ hai – Vẫn giữ nguyên văn

Bấy giờ, Thế Tôn ở giữa đại chúng, duỗi cánh tay sắc vàng, xoa đỉnh đầu A-nan, bảo A-nan và đại chúng rằng:

“Có Tam-ma-đề, tên Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai đều từ một môn này mà siêu vượt trên con đường diệu trang nghiêm. Nay ông hãy lắng nghe!”

A-nan đảnh lễ, cúi mình vâng nhận pháp chỉ.

Đoạn này đã được dời về trước, để khiến mạch văn ở đó hỏi đáp tương ưng, còn mạch văn ở đây không bị đứt đoạn.

Nhưng vì các bản lưu thông hiện nay đều đặt đoạn này ở đây. Nên lập ra mục Tỵ hai này, vẫn giữ nguyên văn, để các bậc Hiền đời sau tham khảo.

Tỵ ba – Dùng dụ hỏi vặn

Phật bảo A-nan:

“Như lời ông nói, thân tại giảng đường, do cửa mở rộng nên thấy vườn rừng ngoài xa. Vậy có chúng sanh nào ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai mà lại thấy cảnh ngoài chăng?”

A-nan đáp:

“Thưa Thế Tôn, ở tại giảng đường không thấy Như Lai, mà lại thấy được rừng suối bên ngoài, thật không có lý.”

Câu đầu là Phật dẫn lại lời A-nan:

  • Thân tại giảng đường: ví cho tâm ở trong thân.
  • Cửa nẻo mở rộng nên thấy được vườn rừng ngoài xa: ví cho năm căn thông suốt nên thấy biết được cảnh ngoài.

Câu sau là Phật cố ý hỏi:

  • Có chúng sanh nào ở trong giảng đường này: ví cho tâm ở trong thân.
  • Không thấy Như Lai mà lại thấy cảnh ngoài chăng: ví cho tâm ở trong thân, nhưng rốt không biết cảnh bên trong, chỉ riêng biết cảnh ngoài, vậy có hợp lý không?

A-nan đối với thí dụ biết rõ là sai. Vì ở trong giảng đường không thấy Như Lai, lại chỉ thấy rừng suối ngoài giảng đường, thì nhất định không có đạo lý ấy. Nên đáp rằng: “Thật không có lý”.

“A-nan, chính ông thế đấy!

Câu này là Như Lai dùng thí dụ để vặn lại.

Ý là: Ông nói tâm ở trong thân, nhưng rốt cuộc không biết bên trong, lại chỉ thấy biết cảnh ngoài. Thế thì cũng như có chúng sanh ở trong giảng đường, không thấy Như Lai mà lại thấy bên ngoài giảng đường vậy.

Tỵ bốn – Theo dụ công phá

Tâm linh của ông, rõ biết hết thảy. Nếu cái tâm hiện tiền sáng biết này thật ở trong thân, thì trước hết phải rõ biết trong thân. Vậy có chúng sanh nào, trước thấy trong thân, rồi sau mới thấy vật bên ngoài chăng?

Tâm linh: Tâm là thứ linh diệu nhất trong muôn vật. Hơn nữa lại có tác dụng linh tri, hễ tâm ở chỗ nào thì đều có thể phân minh rõ biết hết thảy chỗ ấy.

Nếu cái tâm hiện tiền sáng biết này thật sự ở trong thân, khi ấy trước hết phải rõ biết phủ tạng trong thân. Vậy có chúng sanh nào, trước tiên thấy biết phủ tạng, rồi sau mới nhìn ra muôn vật bên ngoài chăng?

Dẫu không thể thấy tim, gan, lá lách, dạ dày; thế thì móng mọc, tóc dài, gân chuyển, mạch động, lẽ ra phải biết. Nay vì sao lại không biết? Nếu không biết bên trong, sao biết được bên ngoài?

Đoạn này vừa tạm cho, vừa đoạt phá.

Câu đầu tạm cho. Ý là: Tim, gan, dạ dày đều là vật bên trong thân, đáng lẽ phải thấy biết được. Nhưng cũng có thể vì quá gần nên không thấy, giống như mắt không thấy được lông mày, lông mi. Nói như vậy, có vẻ vẫn hợp tình lý, nên Phật tạm cho là không thấy.

Sau khi tạm cho, liền đoạt phá: Thế còn những sự như móng mọc, tóc dài, gân chuyển, mạch động, đều diễn ra trong thân mà ở xa nhau. Tâm ông đáng lẽ phải rõ biết. Nhưng nay vì sao lại không hay biết gì?

Câu cuối chỉ ra chỗ sai: Tâm ở trong thân, nếu đã không hay biết gì bên trong, tại sao ngược lại có thể biết bên ngoài?

Tỵ năm – Chính thức kết phá

Vì vậy nên biết: nói tâm hay biết nằm ở trong thân, thật không có lý.”

Chính vì không hay biết được bên trong, nên ông phải biết rằng: nói tâm hay biết ở trong thân, thì quyết không có lẽ ấy. Cũng như ở trong giảng đường, không thấy Như Lai, lại có thể thấy rừng suối bên ngoài, há có lẽ ấy sao?

“Mẹo một – Chấp tâm ở trong thân” hết.

* Văn kinh Việt dịch

* Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *