CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 2

GIẢI THÍCH NHAN ĐỀ
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Đại Phật Đỉnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ-tát Vạn Hạnh, Thủ-lăng-nghiêm Kinh
Nhan đề là tổng cương của toàn bộ kinh. Còn văn kinh là các phần nghĩa được triển khai từ nhan đề. Yếu nghĩa của kinh nằm ở ngay nhan đề, nên nếu muốn biết các phần nghĩa trong kinh, cần hiểu tổng cương ở nhan đề.
Phàm giải thích đề mục phải biết: Các bậc kinh gia đã chọn lọc nhan đề đặt lên đầu kinh, thì người giải thích phải y cứ vào văn kinh để rút lấy nghĩa. Như các cụm “mật nhân”, “liễu nghĩa”,… phải nói rõ đó là pháp gì, trong kinh đoạn nào giảng bày nghĩa ấy. Chứ không được vơ lấy nghĩa một cách lờ mờ rồi bày vẽ bàn rộng, rốt cuộc lại không dính dáng chút nào đến văn kinh. Nếu chỉ luận nghĩa mà không bám theo văn, thì sao khiến cả văn và nghĩa đều thông suốt được!
Về nhan đề kinh này, trong năm tên do chính Phật đặt, người kết tập chọn phần trọng yếu, lược lấy 19 chữ rồi hợp lại. Ba chữ đầu (đại Phật đỉnh) được trích từ tên thứ nhất. Tám chữ giữa là lấy trọn tên thứ ba. Tám chữ cuối là trích từ tên thứ năm. Vì khác với những kinh khác nên gọi là biệt đề. Còn riêng chữ “kinh” là thông đề. Nay y theo cổ đức, trước tiên đi từ biệt đề, rồi sau mới hợp cả thông và biệt, lần lượt theo từng cụm mà phân giải.
Hết thảy các kinh tuy tên riêng vô số, nhưng theo cổ đức phán định thì không ra ngoài bảy cách lập đề, là tổ hợp của ba thứ người – pháp – dụ. Lấy một thì có ba loại, lấy hai cũng ba, lấy cả ba thì có một loại. Ví dụ:
- Người: “Phật Thuyết A-di-đà”
- Pháp: “Đại Niết-bàn”
- Dụ: “Phạm Võng”
- Người – pháp: “Địa Tạng Bồ-tát Bản Nguyện”
- Người – dụ: “Như Lai Sư Tử Hống”
- Pháp – dụ: “Diệu Pháp Liên Hoa”
- Người – pháp – dụ: “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm”
Trong tên kinh Hoa Nghiêm thì “Đại Phương Quảng” là pháp, “Phật” là người, “Hoa Nghiêm” là dụ. Trước khi đọc tiếp, bạn thử nghĩ xem nhan đề 19 chữ của Lăng-nghiêm thuộc loại gì, phân tách thế nào?
Nhan đề kinh này thuộc loại người – pháp. Trong nhóm người, “Như Lai” là quả, “Bồ-tát” là nhân. Trong nhóm pháp, “mật nhân” là lý, “tu chứng liễu nghĩa” là giáo, “chư vạn hạnh” là hành, “Thủ-lăng-nghiêm” là quả. Vì thế nói kinh này lấy người – pháp để lập đề.
Ngoài ra cũng có thể nói là kèm sơ yếu tố dụ. Vì “Phật đỉnh” không phải là vật hay hình ảnh ví von cho pháp, mà dùng để nêu thẳng pháp thể thắng diệu, nên chỉ có thể xem là kèm theo sơ lược mà thôi.
Đại Phật đỉnh
Ba chữ này mang ý khen ngợi và biểu thị bốn pháp ở sau.
“Đại” là từ khen ngợi, tán thán. Cũng như nói: “Lớn lao thay bộ kinh này!” Thế thì biết:
- “Mật nhân” là đại nhân, vì nhờ đó mà thành Bồ-đề.
- “Liễu nghĩa” là đại nghĩa, vì xứng lý thật mà nói.
- “Vạn hạnh” là đại hạnh, vì tu hành đúng với lý thật.
- “Thủ-lăng-nghiêm” là đại định, vì là vua trong các thứ tam-muội.
Đủ các thứ “đại” ấy, nên đây là đại kinh. Nêu chữ “đại” ở đầu, ý muốn người thọ trì kinh phải y đại giáo mà hiểu đại lý, xứng đại lý mà khởi đại hạnh, mãn đại hạnh mà chứng đại quả.
Nên nói chữ “đại” có ý tán thán là vậy.
“Phật đỉnh” là phần tướng đỉnh đầu không thể thấy (vô kiến đỉnh tướng), nằm phía trên nhục kế của Phật. Nhục kế nằm chính giữa mái tóc xoắn ốc màu đen ánh xanh thẫm, xung quanh lại có sắc đỏ, hình trạng như núi xuân nhả mặt trời.
Nhục kế (肉髻): Khối thịt/xương nhô lên ở giữa đầu, hình dạng như búi tóc.
Khi Phật mới đản sinh, thần rừng Lâm-tỳ-ni làm nhũ mẫu, bồng bế nhìn kĩ nhưng không thấy đỉnh đầu. Sau khi Phật thành đạo, du hóa ở nước Ba-la-nại, Bồ-tát Ưng Trì ở phương Đông muốn đo lường thân Phật, bèn bay lên cao trải qua Hằng hà sa cõi Phật, rốt cùng vẫn không thấy được đỉnh đầu Phật.
Thế nên “Phật đỉnh” không thuộc về có. Nhưng lại có thể phóng quang, chứa hóa thân Phật, nên cũng không thuộc về không. Hai bên có – không đều lìa, nên gọi là diệu. Dùng để biểu thị bốn pháp ở sau, cũng như nói: “Mầu nhiệm thay giáo pháp này!” Vậy thì biết:
- “Mật nhân” là diệu nhân, vì nhân tâm và quả giác tuy hai mà chẳng khác.
- “Liễu nghĩa” là diệu nghĩa, vì từ một cửa thâm nhập mà khiến cả sáu căn thanh tịnh.
- “Vạn hạnh” là diệu hạnh, vì mỗi mỗi đều xứng lý chân như mà hướng về cực quả.
- “Lăng-nghiêm” là diệu định, vì tự tánh vốn đủ, không mượn tu thành.
Đủ các thứ “diệu” ấy, nên đây là diệu giáo pháp. Dùng “Phật đỉnh” để nêu biểu, ý muốn người thọ trì kinh cần y diệu giáo là diệu nhĩ môn, ngộ diệu lý là tánh Như Lai Tạng, từ diệu lý khởi diệu hạnh, mãn diệu hạnh chứng diệu quả (tức cực quả Diệu giác, viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc).
Nên nói “Phật đỉnh” có ý nêu biểu là vậy.
Người kết tập chọn ba chữ này để ở đầu tên kinh, nhằm cho người đọc biết rằng, giáo pháp được tán thán và biểu thị ở đây không phải là Quyền hay Tiệm vậy.
Quyền giáo (權教): Chữ “quyền” có nghĩa ứng biến, thích ứng tạm thời. Ví dụ: Nam nữ thụ thụ bất thân, đó là lễ. Dang tay cứu chị dâu đuối nước, đó là quyền. Trong đạo Phật, Quyền giáo là các phương tiện, phương pháp linh hoạt đặt ra tạm thời để dẫn dắt chúng sanh căn cơ thấp, trước khi đưa họ đến Thật giáo (giáo lý chân thật).
Tiệm giáo (漸教): Chỉ giáo pháp tu tập dần dần, tuần tự từng bước từ thấp đến cao. Đối lập với Đốn giáo—một bước vào thẳng.
Như Lai mật nhân
“Như Lai” là một trong mười danh hiệu chung của chư Phật. Vì đạo của các Phật đều đồng, Phật sau cũng giống như Phật trước tái lai, nên gọi là Như Lai. Đó là giải thích theo nghĩa thông thường. Còn nếu y theo kinh này, đúng với ý rốt ráo của giáo pháp Viên Thật thì “Như” là bản giác, “Lai” là thủy giác. Nương bản giác (tánh lý bất sanh diệt) mà khởi thủy giác (trí quán hồi quang phản chiếu). Y diệu trí mà chứng diệu lý, thủy giác và bản giác hợp nhất, gọi là cứu cánh giác. Bấy giờ mới thành Phật đạo, mới được xưng “Như Lai”.
Lại xét theo ba thân (tức “thân thể”, mang nghĩa tích tụ, chứa góp) mà giải thích:
- Pháp thân Như Lai: Phạn ngữ Tỳ-lô-giá-na, Hán dịch biến nhất thiết xứ (cùng khắp mọi nơi). Đây là tích tụ lý pháp làm thân—diệu lý chân như như hư không, biến nhất thiết xứ. Chỗ Lăng-nghiêm nói “Thường trụ diệu minh, bất động chu viên. Cầu việc đến đi, mê ngộ, sanh tử, rốt không thể được” chính là nghĩa pháp thân.
- Báo thân Như Lai: Phạn ngữ Lô-xá-na, Hán dịch tịnh mãn. Đây là tích tụ trí tuệ làm thân—các hoặc đều tịnh, trí tuệ viên mãn. Chỗ Lăng-nghiêm nói “sáng suốt cùng cực tức Như Lai” chính là nghĩa báo thân.
- Ứng thân Như Lai: Trăm ngàn ức hóa thân, tùy cơ ứng hiện. Đây là tích tụ cơ duyên làm thân—khi có cơ duyên có thể độ, liền hiện tám tướng thành đạo. Chỗ Lăng-nghiêm nói “Tự giác đã viên, lại hay giác ngộ cho người, đó là Như Lai ứng thế” chính là nghĩa ứng thân.
Nay nối với hai chữ “mật nhân” ở sau thì “Như Lai” đây thuộc về báo thân và ứng thân.
Nói “mật nhân” tức có ý lọc bỏ các thứ nhân hiển lộ dễ thấy, thuộc lối tu hành sự tướng. Lại nói “Như Lai mật nhân”, tức là cái nhân tâm mà mười phương Như Lai nương vào để thành tựu quả giác. Cũng chính là căn tánh mà hết thảy chúng sanh đều sẵn đủ, cái thể xưa nay thanh tịnh của Bồ-đề Niết-bàn.
Mười phương Như Lai đều y vào cái không sanh diệt này làm nhân tu căn bản, rồi sau mới thành tựu viên mãn sự tu chứng ở quả địa. Còn chúng sanh tuy ai nấy vốn sẵn đủ, nhưng mê mờ không biết, vì thế gọi là mật.
Nhân tu căn bản: Căn bản hiểu là gốc rễ, chứ không phải căn bản vì có nhân tu khác nâng cao hơn.
Sự tu chứng ở quả địa: Nguyên văn quả địa tu chứng (果地修證), tức ngôi Phật cứu cánh giác. Còn gọi là quả địa giác, đối lại với nhân địa tâm.
Lại nữa, mật nhân không chỉ là tánh của nhân, mà cũng là tánh của quả. Vì Như Lai tuy chứng cực quả vẫn không rời chánh nhân. Chỗ gọi là, nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân vậy.
Hỏi: Đã là tánh của quả, sao lại gọi là nhân?
Đáp: Phải thấy được căn tánh bất sanh bất diệt này rồi thì mới là nhân của quả giác cứu cánh. Lại phải nương vào tánh viên trạm ấy làm nhân địa tâm. Xứng tánh khởi tu thì mới được quả giác rốt ráo. Nên chỉ một tánh này mà thông suốt cả nhân lẫn quả. Như Lai phá thức hiển căn chính là hiển bày mật nhân này.
Viên trạm: Tròn đầy, thanh trong.
Muốn hiểu câu trả lời thì cũng cần rõ tâm tư người hỏi. Về sau học vào nội dung kinh, gặp những phiên vấn đáp giữa Phật và A-nan cũng thế.
Ở đây người hỏi thắc mắc vì sao tánh ấy là tánh của quả nhưng lại gọi là nhân. Ngài Viên Anh đáp, trước hết muốn gọi là nhân thì phải nhận ra được nó đã (vì “mật” mà). Nhận ra căn tánh bất sanh diệt ở nơi mình thì mới thật tin đó là nhân của quả giác cứu cánh, rằng mình có thể thành Phật. Lại phải lấy đó làm nhân địa tâm, nương vào mà khởi tu. Rồi cũng một tánh ấy, đến khi thành tựu viên mãn sự tu chứng thì thành quả địa giác. Nên nói nó thông suốt cả nhân lẫn quả là vậy.
Bên cạnh đó, hai chữ “mật nhân” còn có ý trừ bỏ lỗi của năm hạng người.
Chữ “mật” là trừ bỏ lỗi của bốn hạng phàm phu – ngoại đạo – Quyền giáo – Tiểu thừa. Vì họ không thông đạt được rằng, căn tánh mật kín sẵn đủ không sanh diệt ấy chính là nhân để thành Phật. Trở lại nhận ý thức làm tâm, tu tập lầm lạc, nhọc nhằn qua bụi kiếp, rốt không được quả chân thật. Văn kinh quyển thứ nhất: “Người tu không thể thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ thành Thanh Văn – Duyên Giác, thậm chí thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương cùng bọn quyến thuộc; đều do không biết hai thứ căn bản. Tu tập lầm lạc, như muốn nấu cát thành cơm, trải vi trần kiếp, rốt cuộc vô ích.”
Còn chữ “nhân” là trừ bỏ lỗi của hạng lợi căn cuồng tuệ. Vì họ không nhận thức được rằng, căn tánh bất sanh diệt tuy sẵn đủ nhưng chỉ là chánh nhân Phật tánh, còn phải nhờ liễu nhân và duyên nhân thì chánh nhân mới hiển. Thế là họ tự cậy mình có tánh thiên chân, xưa nay vốn là Phật, gạt phăng chuyện tu chứng, không nương các phương tiện, rốt cuộc vẫn trắng tay. Như quặng tuy là vàng, nhưng nếu không tinh luyện thì lâu ngày cũng vẫn là quặng, không thể thành vàng.
Phật tánh có ba nhân: Chánh nhân là hạt giống chính yếu sẵn có. Liễu nhân là trí tuệ liễu giải, ngộ hiểu. Duyên nhân là công hạnh tu tập. Thuyết này do ngài Trí Giả tông Thiên Thai lập nên, dựa theo kinh Đại Bát Niết-bàn, để chú giải kinh Pháp Hoa.
Như ví dụ về quặng ở trên: Chánh nhân là vàng. Liễu nhân là trí tuệ biết quặng ấy là vàng (hoặc trong quặng có vàng), và phương pháp lấy được vàng nguyên chất. Duyên nhân là các hoạt động khai thác, nghiền nhỏ, chiết tách, tinh luyện,… tức là thực hiện những gì đã biết từ liễu nhân.
Tóm ý phần này: Phàm – ngoại – Quyền – Tiểu tuy biết nỗ lực gieo nhân để cầu quả nhưng lại chọn nhân sai lầm, không biết đến cái nhân bí mật để thành Phật. Còn hạng cuồng tuệ tuy ngộ tánh bí mật ấy, nhưng không biết đó chỉ là nhân, nếu không tu thì mãi vẫn không được quả.
Trong hai thứ căn bản, mật nhân chính là chân bản (căn bản Bồ-đề). Kinh nói: “Bồ-đề Niết-bàn từ vô thủy, thể vốn thanh tịnh. Như ông hiện nay, thức tinh nguyên minh hay sanh các duyên, lại bị duyên bỏ sót.” Chúng sanh trong mê, không mất nhưng đành nói “mất”. Chứ thật thì ai nấy đều sẵn đủ, phải lấy đó làm nhân tu căn bản. Mười phương Như Lai đắc thành Bồ-đề, chẳng ai không nương nhân tâm này mà thành quả giác.
Mật nhân là tâm tánh tịch thường, là thể Sa-ma-tha. Mười lần hiển kiến là hiển bày cái mật nhân này, không chỉ sẵn có trong căn mà còn bao trùm vạn pháp. Tụ hội bốn khoa hết thảy là bản chân, dung thông bảy đại không gì chẳng phải Tạng tánh. Làm rõ nguyên nhân ba thứ sanh tục, chỉ bày nguồn cơn năm đại viên dung, hiển dương ba Tạng không lìa một tâm. Ý chỉ của “Như Lai mật nhân” hiển phát tận cùng không sót.
Bốn chữ này của nhan đề, trong văn kinh chiếm đến ba quyển rưỡi, đáp lại chỗ thỉnh cầu của A-nan là Diệu Sa-ma-tha trong ba tên. Quyển thứ nhất, A-nan cầu chỉ bày chân tâm, văn rằng: “Khai thị cho chúng con con đường Sa-ma-tha.” Ba Như Lai Tạng chính là tự tánh vốn định, còn việc có thể khai giải, soi chiếu rõ ràng chỗ ấy gọi là Sa-ma-tha vi mật quán chiếu vậy.
Tu chứng liễu nghĩa
Tức là sự tu chứng được khởi lên từ mật nhân. Do A-nan được Phật hiển bày mật nhân tự nhiên sẵn đủ, đốn ngộ Tạng tánh viên mãn cùng khắp, bèn ví như được Thiên vương ban cho nhà đẹp, thỉnh cầu Phật chỉ cho cửa vào. Như Lai đáp lại về Tam-ma-đề, con đường tu hành thần diệu. Trước tiên nêu hai nghĩa quyết định:
- Quyết định chọn lấy nhân đồng với quả, lắng trược đốn nhập Niết-bàn
- Quyết định từ căn gỡ giải nút kết, cởi trói đốn chứng Viên thông
Kế đó đánh chuông để nghiệm tánh nghe chân thường bất diệt. Chư Phật hiện ra khẳng định gốc của Niết-bàn và sanh tử không ở đâu khác. Thắt khăn chỉ bày thứ lớp cởi gỡ. Ngầm truyền tuyển chọn bản căn phương này. Tóm lại, phải từ một cửa mà thâm nhập, ngược dòng chảy nghiệp từ vô thủy, giải sáu kết mà vượt ba không, vậy mới là tu liễu nghĩa; rồi được hai thứ thù thắng mà phát ba thứ diệu dụng, vậy mới là chứng liễu nghĩa.
“Liễu nghĩa” lại hàm hai ý, khác với cách giải nghĩa thông thường:
Một là: Dùng căn, không dùng thức.
Dùng thức, tức lấy tâm sanh diệt làm nhân tu mà cầu Phật thừa không sanh diệt, thì quyết không có lẽ ấy! Như trong kinh nói: “Người tu không thể thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ thành Thanh Văn – Duyên Giác…”. Nên không phải liễu nghĩa.
Dùng căn, tức y vào tánh viên trạm bất sanh diệt làm nhân tu, rồi về sau viên thành quả địa tu chứng. Như trong kinh nói: “Nếu bỏ sanh diệt, giữ nơi chân thường, quang minh hiện tiền thì căn trần thức ngay đó tiêu tan” cho đến “sao chẳng thành Vô thượng tri giác?” Nên chính là liễu nghĩa.
Thêm nữa, lại đặc biệt chọn nhĩ căn viên thông. Ngài Văn-thù bạch Phật rằng: “Phật giáng cõi Ta-bà, phương này chân giáo thể, thanh tịnh tại âm – văn. Thủ chứng Tam-ma-đề, thật phải từ tánh nghe.” Đây lại càng là liễu nghĩa trong liễu nghĩa! Vì siêu vượt chư Thánh mà độc diệu, là đạo lộ chung của ba đời!
Hai là: Xứng tánh, không chấp tướng.
Chấp tướng mà tu, cái tu ấy nhuốm màu sự tướng. Chấp tướng mà chứng, như thật chứng được thứ gì mới tạo thành. Vì chưa ngộ viên lý nên đều không phải liễu nghĩa.
Xứng tánh mà tu, tức từ văn – tư – tu nhập Tam-ma-địa (Văn Huân Văn Tu như huyễn, đắc thành Kim Cang tam-muội), chỉ từ một cửa thâm nhập mà khiến sáu căn giải thoát, tu tức không tu. Xứng tánh mà chứng, sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, phát hiện của báu sẵn có trong nhà, chứng như không chứng. “Vi trần chư Phật chính từ một đường này mà đến Niết-bàn”, vậy mới là liễu nghĩa!
Còn trì giới – đạo tràng – thần chú thì đều là gia hạnh để tu chứng viên thông, cũng tức là liễu nghĩa.
Cụm này của nhan đề, trong văn kinh chiếm hơn ba quyển, đáp lại chỗ thỉnh cầu của A-nan là Diệu Tam-ma trong ba tên. Quyển thứ tư, Phật nói: “Các ông đã quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp Diệu Tam-ma-đề của chư Phật Như Lai không sanh mỏi nhọc, thì trước hết phải rõ hai nghĩa quyết định khi mới phát tâm.” Nghĩa quyết định cũng tức là liễu nghĩa. Nương liễu nghĩa này mà tu chứng tự tánh vốn định, đắc nhĩ căn viên thông, chỗ gọi là “Tam-ma-đề như huyễn, búng tay vượt vô học”, thì đối với ý chỉ “tu chứng liễu nghĩa” không còn bỏ sót điều gì nữa!
Chư Bồ-tát vạn hạnh
Bồ-tát: Phạn ngữ đầy đủ là Bồ-đề-tát-đỏa, vì người phương này có thói quen thích giản lược nên gọi tắt là Bồ-tát. Bồ-đề dịch là giác, còn tát-đỏa là hữu tình—danh xưng dành cho chúng sanh có đạo tâm lớn. Nay lấy ba nghĩa để giải thích:
- Hữu tình đã giác ngộ ngã – pháp Nhị không.
- Hay giác ngộ cho vô lượng hữu tình trong pháp giới.
- Trí – bi cùng vận hành, tự – tha cùng được lợi. Vận trí thì trên cầu Phật giác để tự lợi. Vận bi thì dưới độ hữu tình để lợi tha.
Bồ-tát là danh hiệu đứng sau Như Lai—tu các Ba-la-mật, tự giác giác tha, để cầu đại giác viên mãn. Còn chữ “chư” là chỉ chung 55 ngôi vị.
Vạn hạnh: Tức các diệu hạnh vô tác được khởi lên từ thể viên thông (như Bồ-tát Quán Thế Âm có 32 ứng thân, 14 vô úy, bốn bất tư nghị), đồng thời bao hàm hai phần trước—Sa-ma-tha tức tuệ của định, Tam-ma tức định của tuệ. Định tuệ viên dung, mỗi mỗi không lìa trung đạo, chảy về biển Tát-bà-nhã.
Như Mười tín, dùng toàn lực mà trồng Phật chủng. Mười trụ, sanh nhà Phật mà làm Phật tử. Mười hạnh, tu lục độ mà làm Phật sự. Mười hồi hướng, hồi Phật sự mà hướng Phật tâm. Bốn gia hạnh, dứt tâm – Phật mà diệt số lượng. Mười địa, khế chân như mà phủ Niết-bàn. Đẳng giác, ngang mé Phật mà phá sanh tướng.
Các hạnh ấy nhiều vô lượng, đây nói “vạn” chỉ là nêu cái ý nhiều, chứ không cố định số đếm. Tóm lại, các hạnh này cắm rễ nơi ba tánh Như Lai Tạng, quy về cùng tột nơi bốn pháp giới vô ngại, xin xem kĩ năm hạnh sau trong “Mười hạnh” thì tự nhiên sẽ hiểu.
Hỏi: Năm mươi lăm ngôi vị Bồ-tát lẽ ra là ngôi vị chứng, nay lại lấy ngôi vị làm hạnh, thế chẳng phải là ép cái chứng xuống thành sự tu sao?
Đáp: Các ngôi vị ấy chính vì nhân hạnh chưa viên mãn, nên mới gọi là hạnh vị thâm nhập chân tu, chưa phải ngôi vị cực quả. Nếu sự tu đã cùng tột thì chỉ có Phật vị mà thôi.
Hỏi: Nếu các ngôi vị là hạnh, thế thì tu viên thông liễu nghĩa sẽ không đủ vạn hạnh?
Đáp: Đó là lý cụ, không phải sự tạo vậy. Tuy thắng giải viên dung, niệm niệm đầy đủ các hạnh độ, nhưng vì sơ tâm quý ở sự tinh chuyên, chỉ một mực phản văn tự tánh, không gồm vạn hạnh, nên chỉ xưng liễu nghĩa.
“Lý cụ” và “sự tạo” là cặp từ quan trọng cần nắm. Một cái xét trên phương diện thể lý đầy đủ muôn hạnh, muôn pháp. Còn cái kia xét về phương diện tạo tác trên sự việc. Ở đây ý nói, về phương diện lý cụ thì tu viên thông liễu nghĩa, với sự khai giải thù thắng viên dung, trong từng niệm tu hành đều đầy đủ muôn hạnh, lục độ,… Nhưng vì sơ tâm (người mới tu, còn ở dưới ngôi Sơ trụ) cần chú trọng tính tinh chuyên, chỉ một mực phản văn chứ không nên tản mác các hạnh khác, nên về phương diện sự tạo sẽ không gồm vạn hạnh được, chỉ xưng là tu chứng liễu nghĩa mà thôi.
Hỏi: Thế còn “chứng liễu nghĩa”, lại không bao gồm các ngôi vị ư?
Đáp: Có hai nghĩa: Một là chỉ chứng thể viên thông, mới phát hai công dụng thù thắng, vì thế không bao gồm. Hai là người tu viên đốn, một chứng thì hết thảy chứng, một ngôi tức thu nhiếp hết thảy ngôi, sơ tâm và cứu cánh vốn không hai vậy.
Thêm nữa, ở trước nói tu chứng (liễu nghĩa) là để đề cao pháp viên thông. Đến đây phân thứ bậc là để đối trị hạng cuồng tuệ. Khiến biết rằng: Lý có thể đốn ngộ, mê lầm nương ngộ đều tiêu; sự không thể đốn trừ, phải theo thứ lớp mà gỡ. Rốt ráo viên dung không ngại hành bố, hành bố không ngại viên dung.
“Viên dung” và “hành bố” cũng lại là một cặp từ cần biết. “Hành” nghĩa là làm. “Bố” nghĩa là bày trải ra (như phân bố, bố trí). Hành bố ý chỉ sự triển khai, sự tu hành theo thứ lớp từng bậc.
Cụm này của nhan đề, trong văn kinh chiếm nửa quyển, đáp lại chỗ thỉnh cầu của A-nan là Diệu Thiền-na trong ba tên. Quyển thứ tám, sau khi kết đáp tên kinh, văn rằng: “A-nan và đại chúng lại được nghe những tên liễu nghĩa của kinh, liền đốn ngộ Thiền-na, sự tiến tu các ngôi Thánh…” Hiển bày việc an trụ vào tự tánh vốn định, nhập biển trang nghiêm nhiệm mầu của Như Lai, viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc.
Văn kinh an định, hỏi đáp ứng hợp, phần chính của toàn kinh đã nói xong, thế nên kết lại tên kinh. Còn bảy thú, năm ấm ma, năm ấm vọng tưởng đều là dư ý ngoài kinh, riêng trình bày những điều khẩn yếu cho sơ tâm, lấy giới và tuệ để trợ định mà thôi.
Thủ-lăng-nghiêm
Tên tổng của đại định, bao hàm ba thứ tên riêng là Diệu Sa-ma-tha, Tam-ma và Thiền-na mà thành một định toàn thể. Khác xa với các thứ định thông thường cần công phu dẫn khởi, cũng khác với cái định khởi tâm đối cảnh. Đây là định của tự tánh.
Cái định khởi tâm đối cảnh: Tức khởi tâm vào đề mục/cảnh tĩnh nào đấy để đạt định.
Kinh Niết-bàn, Phật tự giải thích Thủ-lăng-nghiêm nghĩa là “hết thảy sự rốt ráo kiên cố”. Còn cổ đức thì nói rõ đó là “thấu tận nguồn đáy của các pháp, không động không hoại”. Trong kinh, từ chỗ hiển kiến đến nửa quyển bốn là hiển bày ý chỉ về Tạng tánh, làm sáng tỏ cùng cực cái lý “hết thảy sự rốt ráo kiên cố”; rồi tụ hội bốn khoa tức tánh thường trụ, dung thông bảy đại tức tánh chu biến, chỗ gọi là “thấu tận nguồn đáy của các pháp, không động không hoại” vậy.
Ghi chú:
Thủ-lăng-nghiêm chỉ là phiên âm cho Phạn ngữ Śūraṅgama, nên tự nó không có nghĩa, khác với các tên kinh đã được Hán dịch, ví dụ Hoa Nghiêm nghĩa là dùng hoa để trang nghiêm. Theo truyền thống, ở Việt Nam thường viết là “Thủ Lăng Nghiêm”, có lẽ là để cho dễ nhìn. Còn trong bài của mình, mình quyết định viết “Thủ-lăng-nghiêm” để người mới học dễ biết đây là từ phiên âm. Vì chính mình ban đầu cũng nghĩ “Thủ Lăng Nghiêm” hẳn là một từ có nghĩa, như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm,… Chỉ có mục đích nhỏ là thế, mong bạn đừng câu nệ. Về sau thâm nhập vào kinh rồi thì “Thủ-lăng-nghiêm” hay “Thủ Lăng Nghiêm” cũng chẳng ngại.
Một vấn đề nữa mà người học không nên chấp nhặt, đó là phiên âm Thủ-lăng-nghiêm khác xa Phạn ngữ. Śūraṅgama, phiên âm Việt gần đúng sẽ là Su-răng-ga-ma. Còn 首楞嚴 là phiên âm Hán ngày xưa. Do người Việt có âm riêng để đọc chữ Hán (âm Hán Việt), nên 首楞嚴 đọc là Thủ-lăng-nghiêm. Không riêng gì âm Hán Việt, âm phổ thông ở Trung bây giờ là Shǒu Léng Yán (đọc gần giống Sậu-lẩng-dển), hẳn là khác với âm của người dịch kinh đời Đường, và cũng khác xa âm Phạn.
Trong Phật pháp, việc phiên âm chuẩn không quan trọng bằng việc cứ tuân theo truyền thống, dứt bặt vọng niệm thị phi. Cũng như thần chú Đại Bi hay Lăng-nghiêm, âm Hán Việt khác xa âm Phạn, nhưng số người được ứng nghiệm vẫn nhiều vô kể. Vậy nên, người nhất tâm trì chú thì dù âm có sai cũng vẫn được ứng nghiệm, còn người cứ loay hoay chuyện có đọc giống với âm Phạn không thì chắc chắn không ứng!
Vì lẽ đó, mình vẫn viết là Thủ-lăng-nghiêm chứ không dùng Su-răng-ga-ma!
Nay giải thích định này, có hai nghĩa để gạn lọc:
- Đây là viên định: Không chỉ riêng nắm lấy việc “tự tâm bất động”, mà còn phải thống nhiếp muôn pháp, thảy đều xưa nay bất động, hợp thành một định thể. Chỗ gọi là “nhật nguyệt đến đi mà không động, sông ngòi đua chảy mà chẳng dời”. Vì thế gọi là viên. Kinh nói “thường trụ diệu minh, bất động chu viên”. Nếu không, sao có thể là cái định “hết thảy sự rốt ráo kiên cố” được! Theo đây mà xét, hễ thứ định nào không bao hàm vạn hữu, chỉ riêng chế phục một tâm, thì đều không phải viên định.
- Đây là diệu định: Chính vì tự tánh vốn đủ, tự nhiên bất động, không mượn tu thành; dẫu ở trong mê, thể vẫn không đổi. Tức như nói “Trường An tuy náo, nước ta vẫn yên”. Thế nên gọi là diệu. Trong kinh, chỗ phóng quang gạn hỏi A-nan cho thấy động tĩnh hai bên đều lìa. Nếu không, sao có thể là cái định “thấu tận nguồn đáy của các pháp, không động không hoại” được! Theo đây mà xét, hễ không ngay nơi tánh, lại riêng lấy công phu để cầu định, thì đều không phải diệu định.
Nhật nguyệt đến đi mà không động, sông ngòi đua chảy mà chẳng dời: Mặt trời, mặt trăng luân phiên mọc rồi lặn, đến rồi đi, nhưng vốn không lay động. Sông ngòi thường chảy nhưng bao năm vẫn nằm đấy không dời đổi. Hai vế này ý nói mọi sự tưởng như động nhưng thực chất là bất động, cũng như câu “hết thảy sự rốt ráo kiên cố”.
Trường An tuy náo, nước ta vẫn yên: Điển tích của Thiền tông. Ý nói cảnh ngoài tuy náo động, nhưng tự tánh của ta vẫn y nhiên, cũng như câu “nguồn đáy của các pháp vẫn không động không hoại”.
Hợp hai nghĩa viên và diệu nên gọi là Thủ-lăng-nghiêm Vương Tam-muội. Từ lúc phát giải khởi hạnh, cho đến trải qua các ngôi vị mà thành Phật, từ đầu đến cuối, trung gian không bao giờ có tướng quanh co, cũng không có xuất thoái. Không giống các thứ định thông thường có nhập – trụ – xuất. Nhập thì có định, xuất thì thành không. Ở trong định dẫu trải nhiều kiếp, ắt phải lấy tĩnh mà ngăn động. Ra khỏi định trong thoáng chốc, liền bị cái động chướng loạn. Thảy đều không phải đại định viên diệu vậy.
Kinh này từ đầu lúc thỉnh định, cho đến kết tên kinh, là phần “chánh thuyết”. Nửa đầu toàn bàn về Tạng tánh, để khai phát viên thông. Nửa sau toàn nói về viên thông, để tu chứng Tạng tánh. Từ đầu đến cuối không ra ngoài một định ấy. Nên biết ba thứ định cũng không ngoài ba nhân Phật tánh:
Sa-ma-tha, văn kinh từ nửa quyển bốn trở về trước, lấy chỗ hiển bày chánh nhân Phật tánh, kèm theo liễu nhân làm định thể. Tuệ tâm liễu nhân khai phát—đương cơ theo lời dạy mà giải ngộ, chiếu thể sáng rỡ hiện tiền. Cái thể soi chiếu ấy chính là liễu nhân Phật tánh, gọi là Sa-ma-tha vi mật quán chiếu. Do giải là từ tánh mà phát ra, nên tức là tuệ của định.
Tam-ma cũng lấy chỗ hiển bày chánh nhân Phật tánh, kèm theo duyên nhân làm định thể. Thiện tâm duyên nhân khai phát—tuyển căn mà vào thẳng, từ văn – tư – tu vào Tam-ma-địa, ấy là pháp lành xuất thế (xuất thế thiện pháp), tức duyên nhân Phật tánh. Do hạnh nương giải mà khởi, nên tức là định của tuệ.
Thiền-na lấy trọn chánh nhân Phật tánh, lại kiêm cả liễu nhân và duyên nhân làm định thể. Tịch – chiếu song hành, không nổi không chìm, không hôn trầm hay tán loạn, tức định tuệ quân bình, từ trung lại vào trung, chảy về biển quả trang nghiêm mầu nhiệm (diệu trang nghiêm quả hải).
Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na, mỗi thứ đều là định. Nên nói “lấy … làm định thể” nghĩa là nó lấy cái ấy làm thể chất. Sa-ma-tha là tuệ của định tự tánh. Còn Tam-ma là định của tuệ Sa-ma-tha.
Chữ “thể” được dùng rất nhiều trong Phật pháp, như “định thể” nghĩa là thể của định, “giới thể” nghĩa là thể của giới, “chiếu thể” là thể soi chiếu. Tuy giải thích nghe đơn giản (thể nghĩa là bản thể, thể chất) nhưng người mới học vẫn khó hình dung. Giải pháp là bạn cần đọc nhiều, gặp từ “thể” qua nhiều ngữ cảnh khác nhau, qua thời gian sẽ tự hiểu.
Từ trung lại vào trung, chảy vào…: Nguyên văn “trung trung lưu nhập” (中中流入). Cụm này vốn đã xuất hiện mấy lần, nhưng mình đã tìm cách dịch dựa theo từng ngữ cảnh để bạn không bị kẹt. Đến đây vì ngữ cảnh phù hợp nên sẵn tiện giải thích. Do tâm tu định tuệ quân bình (tức tâm trung đạo), dùng trung đạo mà tiến dần vào cái trung đạo thuần chân, mỗi hạnh vị cho đến cực quả đều không lìa trung đạo, nên gọi là từ trung vào trung, trung trung lưu nhập Tát-bà-nhã hải.
Lưu ý đó chỉ là một nghĩa trong nhiều cách giải. Đến khi gặp chính thức ở văn kinh phần Thiền-na, bạn sẽ được biết thêm cách hiểu khác. Cũng vì có nhiều cách hiểu nên mình đã băn khoăn có nên dịch hay không (vì dịch thì phải cố định vào một nghĩa). Thường thì không nên dịch, nhưng để nguyên thì đọc vào sẽ thấy vướng (trung trung lưu nhập?). Nên tạm thời mình chọn thuận theo ngữ cảnh mà dịch.
Nay hợp tên riêng của ba định thành một tên chung (Thủ-lăng-nghiêm) cho đại định. Lại nhiếp cả tên riêng và chung của đại định thành toàn bộ nhan đề kinh, tổng cộng 19 chữ, gọi là biệt đề (tên riêng của kinh này), thể hiện giáo pháp được diễn giảng trong ấy (sở thuyên).
Kinh
Chữ này là thông đề, thuộc về năng thuyên, tức thuyên giảng các pháp nói đến ở trên. Phạn ngữ Sūtra, Hán dịch là khế kinh. Trên thì khế hợp với chân lý chư Phật thuyết, dưới thì khế hợp với căn cơ có thể độ.
Phương này cũng gọi Thánh giáo là “kinh” (như của Trang Tử, Lão Tử,…), nên dịch “khế kinh” để tỏ rõ là Thánh giáo của Tây Vực (tức Phật giáo ở Ấn Độ). Hơn nữa lại đủ bốn nghĩa: quán, nhiếp, thường, pháp.
- Quán: Xâu chuỗi các nghĩa cần biết, khiến không tán thất.
- Nhiếp: Nhiếp thọ các căn cơ cần độ, khiến được giải thoát.
- Thường: Đến tận thời vị lai, muôn đời cũng không thể đổi được lời ấy.
- Pháp: Tận cùng mười pháp giới, là khuôn phép cho chúng sanh tuân theo.
Bạn cũng có thể đọc cách diễn giải khác ở bài Cùng học phẩm Phổ Môn để rõ hơn.
Kinh này cũng đủ bốn nghĩa ấy:
- Quán: Xâu chuỗi nghĩa cần biết của Diệu Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na.
- Nhiếp: Nhiếp thọ thân nhân, độ thoát A-nan và Tỳ-kheo-ni Tánh, đắc Bồ-đề tâm, vào biển Biến tri.
- Thường – pháp: Như phần pháp môn viên thông nói: “Quá khứ chư Như Lai, môn này đã thành tựu. Hiện tại các Bồ-tát, cũng đều nhập viên minh. Vị lai người tu học, nên y theo pháp này.” Mười phương ba đời cùng tuân theo không dời đổi, chẳng phải nghĩa pháp và thường đó ư? Còn các đoạn khác, sợ rườm rà nên không chép.
Quyển một
Ngày xưa, kinh sách phần nhiều đều theo kiểu trục cuộn (chữ “quyển” trong Hán văn có nghĩa cuộn lại). Mở ra thì có thể đọc tụng, cuộn lại thì tiện cung phụng. Người đời sau tuy dễ đóng thành tập sách nhưng không đổi tên, vẫn gọi là “quyển”.
Toàn kinh có mười quyển, ngay dưới nhan đề là quyển một.
“Giáp một – Giải thích nhan đề” hết.
