CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 20.

Chấp tâm ở ngoài thân & Chấp tâm ẩn trong căn
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Mẹo hai – Chấp tâm ở ngoài thân
Thìn một – A-nan dẫn thí dụ đèn, tự quyết giống ý Phật
A-nan dập đầu, rồi bạch Phật rằng:
“Con nghe Như Lai chỉ dạy như vậy, bèn ngộ tâm mình, thật ở ngoài thân.
A-nan thấy biết chưa chân thật, nên không khỏi thuận theo lời rồi sanh sự hiểu biết. Nghe Phật phá “ở trong”, liền chấp là “ở ngoài”. Vì thế cúi lạy dập đầu, rồi bạch Phật rằng:
“Con nghe Như Lai chỉ dạy như vậy”, tức chỉ phần trước: nếu đã không biết bên trong, sao lại biết bên ngoài?
“Bèn ngộ tâm mình”, ngộ này không phải chân ngộ. Vì không thấy được bên trong thân, nên A-nan ngộ hiểu tâm không ở trong thân. Vì biết rõ cảnh ngoài, nên ngộ suy tâm ắt ở ngoài thân. Do đó quyết định nói “thật ở ngoài thân”.
Vì sao thế? Ví như ngọn đèn được thắp tại phòng, trước sáng trong phòng, sau mới từ cửa, chiếu đến ngoài sân. Hết thảy chúng sanh không thấy trong thân, chỉ thấy cảnh ngoài, cũng như ngọn đèn nằm ở ngoài phòng, không chiếu bên trong.
Đây A-nan tự lật lại cái chấp ở trước là sai, rồi dẫn thí dụ làm chứng.
Câu đầu tự nêu hỏi: Vì sao con nói tâm này thật ở ngoài thân?
Rồi dẫn dị dụ: Ví như thắp một ngọn đèn ở tại phòng. Ngọn đèn ấy ắt trước hết chiếu sáng trong phòng, rồi từ cửa phòng chiếu ra, sau mới sáng đến ngoài sân.
“Hết thảy chúng sanh…” trở đi là đồng dụ: Vì hết thảy chúng sanh không thấy phủ tạng trong thân, chỉ thấy các pháp ngoài thân; nên cũng giống như ngọn đèn nằm ở ngoài phòng, chỉ sáng bên ngoài mà không chiếu được vào trong vậy.
Nghĩa ấy rõ ràng, không nghi gì nữa. Liệu đã giống nghĩa rốt ráo của Phật, không còn sai chăng?”
Đây là A-nan tự tin vào lập luận của mình. Lấy ánh sáng ngọn đèn ở ngoài phòng để ví cho nghĩa “tâm ở ngoài thân”, tự cho nghĩa ấy nhất định đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa.
Câu sau: Liệu nghĩa ấy đã đồng với nghĩa rốt ráo của Phật chưa? Không còn sai lầm như trước chăng?
Xem câu đầu, A-nan khẳng định tâm ở ngoài thân, không còn nghi ngờ, tựa hồ mười phần chắc chắn. Nhưng xem “liệu… chăng?” ở câu sau, thì thấy trong lòng vẫn còn do dự. Rốt cuộc chân vẫn chưa từng chấm đất!
Thìn hai – Như Lai dùng việc thân và tâm biết nhau để phá
Tỵ một – Thí dụ vô can
Phật bảo A-nan:
“Các Tỳ-kheo đây vừa theo tôi vào thành Thất-la-phiệt, tuần tự khất thực món ăn bốc tay. Trở về rừng Kỳ-đà, tất cả đã thọ trai. Ông hãy xét xem: khi một người ăn, những người khác có no không?”
A-nan đáp:
“Thưa không, Thế Tôn! Vì sao vậy? Các vị Tỳ-kheo tuy là A-la-hán, nhưng thân mạng không đồng, sao một người ăn lại có thể khiến cả chúng đều no?”
Đây là Phật dùng thí dụ để chỉ rõ: Nếu tâm ở ngoài thân, thì những gì tâm biết, thân không thể hay. Như khi người khác ăn, mình không thể no.
Món ăn bốc tay (đoàn thực): cũng gọi là đoạn thực, tức loại thức ăn có hình thù từng phần đoạn, có thể bốc lấy mà ăn. Ăn bốc là phong tục ở Tây Vực.
Hết thảy chúng sanh nương vào bốn loại thức ăn mà tồn tại. Ngoài đoàn thực, còn có:
- Xúc thực: như hàng quỷ thần, tiếp xúc hương khí mà ăn.
- Tư thực: như chư thiên Sắc giới, lấy thiền tư làm thức ăn.
- Thức thực: như chư thiên Vô sắc giới, lấy thức tưởng tương tục làm thức ăn.
Ở đây nói “đoàn thực” (món ăn bốc) để phân biệt với ba loại còn lại.
Phật chế định Tỳ-kheo khất thực là để trừ tâm tham và kiêu mạn. Vì khất thực nuôi thân, tùy duyên qua ngày, nên không tham món ngon; lại phải hướng đến người khác mà cầu xin, nên có thể chiết phục tâm kiêu mạn. Hơn nữa, khất thực thì không lo tích chứa, sắp đặt, kinh doanh, v.v. khỏi làm trở ngại đạo nghiệp.
Phần Tựa nói các Tỳ-kheo được trưởng giả, cư sĩ trong thành thiết trai. Như vậy dù là được thiết trai cúng dường, cũng tính là khất thực.
“Khi một người ăn, những người khác có no không?” Đây là Phật cố ý hỏi, khiến A-nan tự suy xét: người đã phân ra “đây” với “kia”, rốt cuộc có can hệ đến nhau hay không?
A-nan đối với thí dụ không lầm, đáp rằng: “Thưa không, Thế Tôn!” Tức một người ăn thì không thể khiến đại chúng được no.
Sau đó tự giải thích: Các vị Tỳ-kheo này tuy đã chứng A-la-hán, nhưng quả phược vẫn còn, vẫn phải nhờ ăn uống. Thân thể và tính mạng mỗi người khác nhau, ai ăn thì tự người ấy no. Làm sao một người ăn lại có thể khiến cả chúng đều no được!
“Quả phược” là thân quả báo đang trói buộc. Ý nói tuy là A-la-hán, hết phiền não, không còn luân hồi sanh tử, nhưng thân hiện đời (do nghiệp báo đời trước chiêu cảm) vẫn còn. Thân này còn sống thì vẫn phải lệ thuộc ăn uống, ngủ nghỉ, rồi chịu đau bệnh, già yếu v.v.
Phật bảo A-nan:
“Nếu tâm hay biết của ông thật ở ngoài thân, thân tâm cách biệt, tự không can hệ; thì những gì tâm biết, thân không thể hay; những sự tại thân, tâm không thể biết.
Đây là đem pháp hợp vào thí dụ, để biện rõ về sự vô can.
Tâm hay biết: cũng tức là tâm phan duyên, giống với phần trước.
Nếu quả thật tâm này ở ngoài thân, thân và tâm xa lìa cách biệt, không can hệ đến nhau. Thế thì những điều mà tâm biết, thân không thể hay; còn những sự diễn ra nơi thân, tâm không thể biết. Cũng như thí dụ Tỳ-kheo: người kia ăn thì mình không no, mình ăn thì người kia không no, đôi bên cách biệt. Phải như vậy thì mới chấp nhận tâm ở ngoài thân.
Tỵ hai – Nghiệm xét liên can
Nay tôi đưa ông xem bàn tay bông đâu-la. Khi mắt ông thấy, tâm có phân biệt không?”
A-nan đáp:
“Thật vậy, thưa Thế Tôn.”
Phật bảo A-nan:
“Nếu cùng biết nhau, sao lại ở ngoài?
Đây kiểm nghiệm rằng tâm không phải ở ngoài thân.
Phật bảo: Nay tôi đưa ông xem bàn tay bông đâu-la của tôi. Khi mắt ông thấy, tâm ông có sanh phân biệt không?
A-nan đáp: Mắt thấy thì tâm biết, thật vậy thưa Thế Tôn.
Phật bảo A-nan: Nếu thân và tâm biết nhau thì không phải không liên can, cũng không phải lìa nhau, sao ông lại nói tâm ở ngoài thân?
“Đâu-la” dịch là hương mịn. Loại bông này ở Tây Vực, cực kỳ mềm mại, sắc trắng như sương. Tay Phật mềm mại giống như vậy. Đây cũng là một trong 32 tướng tốt.
Nếu tâm ở ngoài thân, thì thân tâm lìa nhau, tự nhiên không thể biết nhau. Nay mắt (thuộc phần thân) thấy tay Phật, tâm liền phân biệt—biết là bàn tay như bông đâu-la. Nếu đã biết nhau, sao có thể nói tâm ở ngoài thân? Đây chính là lời vặn hỏi để phá chấp.
Tỵ ba – Chính thức kết phá
Vì vậy nên biết: nói tâm hay biết nằm ở ngoài thân, thật không có lý.”
Chính vì thân và tâm biết nhau, nên phải biết rằng đôi bên không lìa nhau. Thế thì lời ông nói, rằng tâm hay biết nằm ở ngoài thân, thật không có lẽ ấy!
“Mẹo hai – Chấp tâm ở ngoài thân” hết.
Mẹo ba – Chấp tâm ẩn trong căn
Thìn một – A-nan lấy thí dụ chén lưu ly úp vào mắt
A-nan bạch Phật:
“Thế Tôn! Như lời Phật dạy: vì không thấy bên trong, nên không ở trong thân; vì thân tâm biết nhau, không hề xa lìa, nên không ở ngoài thân. Nay con suy nghĩ, biết được một chỗ.”
Đây chuyển sang chấp rằng: tâm ẩn trong nhãn căn.
“Như lời Phật dạy” là dẫn lại hai khoa trên, những lời Phật đã dùng để phá chấp:
- Vì không thấy được tim, gan, lá lách, bao tử nên tâm không ở trong thân.
- Vì thân tâm biết nhau—mắt thấy tay Phật, tâm liền phân biệt—không hề xa lìa, nên tâm không ở ngoài thân.
Hai chấp ở trước đều bị phá, nên A-nan nói: “Nay con suy nghĩ, biết được một chỗ.”
Câu này đối với hai thứ tâm chân – vọng đều không hợp. Vì chân tâm thì không rơi vào suy nghĩ, còn vọng tâm thì không hề có nơi chỗ. A-nan nói như vậy, tức đã gạt bỏ hai chấp trong – ngoài, riêng chấp một chỗ khác.
Phật hỏi:
“Chỗ ấy ở đâu?”
A-nan thưa:
“Tâm hay biết này, đã không biết bên trong, lại thấy được bên ngoài. Theo con suy xét, nó ẩn trong căn.
A-nan nhân nơi sự thật “không biết được bên trong, có thể thấy bên ngoài”, liền suy nghĩ xét đoán, muốn thoát hai lỗi “trong” và “ngoài”. Bèn chấp rằng: tâm ẩn nấp bên trong nhãn căn, không thấy bên trong là vì bị căn ngăn cách, thấy được bên ngoài là do có lỗ thông ra.
Ví như có người, lấy chén lưu ly, úp vào hai mắt. Tuy có vật úp, nhưng không ngăn ngại. Nhãn căn vừa thấy, tâm liền phân biệt.
A-nan sợ bị Phật vặn phá, nên lập thí dụ chứng minh.
“Lưu ly” là bảo vật màu xanh, thể chất trong sáng thấu suốt. Còn “chén” tức như mắt kính.
Ở đây, “chén lưu ly” ví cho nhãn căn, còn “hai mắt bị úp” ví cho tâm. Như có người dùng tròng kính úp vào hai mắt. Tuy có vật úp vào, nhưng vật ấy không ngăn ngại mắt. Tâm ẩn trong nhãn căn, cũng giống như mắt bị tròng kính úp lên, nhãn căn không ngăn ngại tâm.
Cho nên nói: Nhãn căn vừa thấy vật bên ngoài, tâm liền theo đó mà phân biệt.
Trong bài này, “nhãn căn” cũng tức là “mắt”, nguyên văn không có sự phân biệt giữa hai từ. Còn khi dịch, mình dùng “mắt” cho dụ, “nhãn căn” cho pháp, để bạn đỡ bị rối giữa pháp và dụ.
Nay tâm hay biết của con không thấy bên trong, vì ở tại căn; phân minh bên ngoài, không bị chướng ngại, vì ẩn sau căn.”
Đây là A-nan đem pháp hợp vào dụ, nhằm thoát hai lỗi trước: mờ mịt bên trong, thấy biết bên ngoài.
Tâm hay biết này không thấy được tim, gan, lá lách, bao tử bên trong, là vì nó ở trong căn, chứ không phải trong thân. Đây là để thoát khỏi lỗi “mờ mịt bên trong”.
Tâm lại có thể phân minh thấy biết bên ngoài, không bị chướng ngại, là vì nó ẩn sau căn, mà căn thì như chén lưu ly, nên không hề ngăn ngại. Đây là để thoát khỏi lỗi “thấy biết bên ngoài”.
Mặc cho A-nan tự cậy tài trí, khéo lập thí dụ, khéo hợp với pháp, nhưng vì không lo chân tu, nên những điều ấy đều không phải là tri kiến chân thật lưu xuất từ tự tánh. Đoạn sau, chỉ một lời của Như Lai liền phá tan được.
Thìn hai – Như Lai dùng việc pháp dụ không tương đồng để phá
Tỵ một – Biện không tương đồng
Phật bảo A-nan:
“Như lời ông nói, tâm ẩn trong căn, giống như lưu ly. Vậy đương khi dùng lưu ly úp mắt, nhìn cảnh núi sông, có thấy lưu ly không?”
“Đúng vậy, thưa Thế Tôn! Đương khi lưu ly úp lên mắt, thật có thấy lưu ly.”
Phật nhắc lại lời A-nan: tâm ẩn trong căn, giống như thí dụ lưu ly trùm lên mắt.
Pháp và dụ này vốn không tương đồng. Như Lai sắp phá chấp ấy, nên trước tiên cố ý hỏi để xác định: Dùng lưu ly trùm lên mắt, lưu ly không ngăn ngại mắt. Vậy đương khi nhìn núi sông ở xa, có thấy được lưu ly ở gần không?
A-nan theo sự việc mà đáp thẳng: Đúng vậy, thưa Thế Tôn! Đương khi dùng lưu ly trùm lên mắt, nhìn xa thấy núi sông, nhìn gần quả thật vẫn thấy lưu ly.
Phật bảo A-nan:
“Tâm ông nếu như lưu ly úp vào, khi thấy núi sông, sao không thấy mắt?
Đây chính thức vặn phá, rằng pháp và dụ không tương đồng.
Nếu tâm ông ẩn nấp bên trong nhãn căn, như thí dụ lưu ly úp vào mắt, thế thì tâm ông giống như mắt, còn nhãn căn thì như chén lưu ly.
Trong thí dụ, khi nhìn cảnh núi sông, mắt có thấy lưu ly. Còn trong pháp, nhãn căn trùm lấy tâm, nhưng khi nhìn núi sông, tâm lại không thấy nhãn căn. Đã không thấy nhãn căn, thì pháp và dụ không tương đồng. Nên chỗ chấp của ông không thành lập được.
Tỵ hai – Mở hai lối phá
Nếu thấy được mắt, thì mắt đồng như cảnh, không thể thành nghĩa ‘mắt thấy tâm phân biệt’. Nếu không thấy mắt, sao lại nói rằng: tâm hay biết này ẩn ở trong căn, như lưu ly úp?
Đây mở ra hai lối: thấy được mắt và không thấy được mắt. Cả hai đều rơi vào phi lượng, không thành lập được. Đúng như câu: “Chẻ ngang vòng ngọc, bày hai mồi; mặc cho trái phải, đều mắc câu!”
Nếu khi thấy núi sông mà có thể thấy mắt, thì mắt cũng đồng như cảnh sở đối, không phải là căn năng đối nữa. Như vậy không thể thành nghĩa “mắt vừa thấy, tâm liền theo đó phân biệt”.
Nếu khi thấy núi sông mà không thấy được mắt, thì tâm không phải ẩn trong căn, vì không tương đồng với thí dụ lưu ly trùm mắt. Nên Phật trách: Sao ông lại nói tâm hay biết này ẩn trong căn, giống như lưu ly úp vào mắt?
A-nan phí hết tâm cơ, lập ra thí dụ, để khỏi bị quở phá. Nào ngờ Như Lai chỉ hỏi một câu: “Thấy mắt hay không thấy mắt?” Hai đầu đều rơi vào lỗi, liền bị phá tan!
Tỵ ba – Chính thức kết phá
Vì vậy nên biết: nói tâm hay biết ẩn nấp trong căn, như lưu ly úp, thật không có lý.”
Chính vì hai ngả “thấy mắt” và “không thấy mắt” đều rơi vào lỗi, nên phải biết rằng: Ông nói tâm hay biết ẩn nấp trong căn, giống như lưu ly úp vào mắt, thật không có lẽ ấy!
“Mẹo ba – Chấp tâm ẩn trong căn” hết.
