CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 21

Chấp tâm phân sáng tối.

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Thìn một – A-nan lấy việc thấy sáng tối để phân trong ngoài

A-nan bạch Phật:

“Thưa Thế Tôn, nay con lại nghĩ: Thân thể chúng sanh, phủ tạng ở trong, khiếu huyệt ở ngoài. Có tạng thì tối, có khiếu thì sáng.

Phần này tựa như chấp cả trong ngoài. Nhưng xét kĩ sẽ thấy: A-nan vẫn quanh co lập lại chỗ chấp ban đầu, rằng tâm ở trong thân. Chỉ là muốn tỏ bày vì sao tâm không thấy bên trong mà thôi.

Nên bạch Phật rằng:

Thưa Thế Tôn, nay con lại nghĩ như vầy: Nói tâm ở ngoài mà thân tâm biết nhau, cố nhiên là sai. Nói tâm ẩn trong căn mà không thấy được mắt, nên cũng không đúng. Rốt cuộc vẫn là tâm ở trong thân. Nhưng nếu ở trong thân, vì sao không thấy được bên trong? Là vì thân thể chúng sanh, phủ tạng ở trong, mà chỗ có tạng thì tối. Tại sao lại thấy được bên ngoài? Là vì thân thể chúng sanh, khiếu huyệt ở ngoài, mà chỗ có khiếu thì sáng.

Phủ tạng: tức lục phủ ngũ tạng.

Sách Tố Vấn nói: “Cơ quan truyền dẫn, biến hóa vật thực mà không tàng chứa thì gọi là phủ. Còn nếu có thể tàng chứa tinh khí, không tiết ra ngoài, thì gọi là tạng.”

Sách Bạch Hổ Thông nói: “Năm tạng là gan, tim, phổi, thận, tỳ. Thận là nơi tàng chứa tinh, tim là nơi tàng chứa thần, gan là nơi tàng chứa hồn, phổi là nơi tàng chứa phách, tỳ là nơi tàng chứa chí. Còn sáu phủ tức là cung phủ của năm tạng: dạ dày là phủ của tỳ, bàng quang là phủ của thận, tam tiêu là phủ của mệnh, mật là phủ của gan, ruột non cùng ruột già là phủ của tim và phổi.”

Phủ và tạng đều là vật ở trong thân, nên nói “ở trong”.

Khiếu huyệt: tức là bảy lỗ thông (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, một miệng), đầy đủ trên mặt, nên nói “ở ngoài”.

“Tạng” (hoặc “tàng”) có nghĩa bao bọc, cất chứa. Chỗ tàng chứa thì ắt tối.

“Khiếu” có nghĩa thông suốt. Chỗ có lỗ thông thì ắt sáng.

A-nan suy nghĩ rằng:

  • “Có tạng thì tối”, vậy thì có thể thoát khỏi lỗi mờ mịt bên trong.
  • “Có khiếu thì sáng”, vậy thì có thể thoát khỏi lỗi biết được bên ngoài.

Vì thế tiếp theo đây nêu việc để chứng minh.

Con đối trước Phật, mở mắt thấy sáng là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào?”

Đây là A-nan tự giải thích ý “có khiếu thì sáng, có tạng thì tối”.

Vì nay ở trước mặt Phật mà mở mắt, do có lỗ thông nên thấy sáng, gọi là thấy bên ngoài. Còn lúc nhắm mắt, do có tạng che nên thấy tối, gọi là thấy bên trong.

Như vậy vẫn giống với chỗ chấp đầu tiên: tâm ở trong thân. Nhưng vì chấp ấy đã bị phá, nên A-nan không dám tự quyết nữa, phải thỉnh Phật phân giải. Thưa rằng: “Nghĩa ấy thế nào?”

Xem giọng điệu A-nan ở đây, so với lần chấp thứ hai: “Con nghe Như Lai chỉ dạy như vậy, bèn ngộ tâm mình, thật ở ngoài thân. Nghĩa ấy rõ ràng, không nghi gì nữa”, thì khí thế của A-nan đã khác đi biết bao!

Thìn hai – Như Lai dùng nghĩa “không thành thấy bên trong” để phá

Tỵ một – Phá sở kiến không phải trong

Phật hỏi A-nan:

“Khi ông nhắm mắt thấy tối, cảnh tối ấy đối trước mắt, hay không đối trước mắt?

Vì chỗ chấp quay trở lại là trong thân, nên Phật chỉ y vào việc thấy tối để phá. Căn cứ chỗ A-nan chấp mà mở ra hai lối: đối trước mắt hay không đối trước mắt. Bên dưới lần lượt phá cả hai đều sai.

Nếu đối trước mắt, thì cảnh tối nằm ở trước, sao thành bên trong?

Đây phá ý “nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân”.

Khi thấy tối, nếu cảnh tối ấy đối lại với mắt, thì cảnh nằm phía trước, đối diện với mắt. Làm sao thành cảnh ở trong mà gọi là thấy trong thân?

Nếu thành bên trong, thì khi ở phòng tối, không có mặt trời, mặt trăng, đèn đuốc; cảnh tối trong phòng đều là tam tiêu mệnh phủ của ông sao?

Nếu chấp rằng cảnh tối trước mắt chính là cảnh trong thân, thế thì khi ở trong phòng tối, không có ba thứ ánh sáng mặt trời – mặt trăng – đèn đuốc, bóng tối trong phòng đều là cảnh trong thân, tam tiêu mệnh phủ của ông. Há có lẽ ấy ư?

Tam tiêu: thượng tiêu ở trên dạ dày, trung tiêu ở khoảng giữa dạ dày và rốn, hạ tiêu ở dưới rốn. Vì là phủ của mệnh, nên nói “tam tiêu mệnh phủ”.

Còn không đối trước, làm sao thành thấy?

Đây là ngừa chuyển chấp. Vì “đối trước mắt” đã bị phá, có thể chuyển sang chấp “không đối trước mắt”, nên Phật phá luôn:

Nếu sở kiến (tức cảnh tối ấy) không ở trước mắt, làm sao thành nghĩa “thấy”?

Phàm gọi là “thấy”, nhất định phải có căn và cảnh đối nhau. Đây là điều thế gian cùng công nhận.

Tỵ hai – Phá năng kiến không chân thật

Giả sử thấy tối, không phải hướng ra, quay vào mà thành. Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân. Mở mắt thấy sáng, sao không thấy mặt?

Đây sợ A-nan chống chế rằng: Mở mắt thấy sáng là nhìn thẳng ra ngoài. Còn nhắm mắt thấy tối là nhìn quay vào trong. Chứ không lấy cảnh phòng tối ở trước mắt, làm tam tiêu mệnh phủ của mình.

Nên Phật trước hết ấn định ý ấy: Giả sử cái thấy tối của ông không phải là nhìn hướng ra ngoài, mà do quay vào nhìn bên trong.

Hai câu kế giải thích:

“Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân.” Phật vặn rằng: Nếu lúc nhắm mắt đã có thể nhìn quay vào trong, thì khi mở mắt cũng phải như thế. Cái thấy chỉ có một, mở mắt và nhắm mắt, theo lý phải nhất quán. Vậy khi mở mắt thấy sáng, sao không quay lại thấy được mặt của chính mình?

Nếu không thấy mặt, ‘quay vào’ bất thành. ‘Thấy mặt’ nếu thành, thì tâm hay biết, cùng với nhãn căn đều ở hư không, sao thành ‘trong thân’?

Đây tiếp ý trên mà phá hai lối: thấy mặt và không thấy mặt.

Nếu khi mở mắt thấy sáng mà không thể quay lại thấy mặt mình, thì có thể chứng minh: khi nhắm mắt thấy tối cũng không thể quay vào thấy trong thân. Như vậy, nghĩa “quay vào trong” bất thành.

Dù cho thấy mặt, cái nghĩa “thấy mặt” thành lập được đi nữa, thế thì tâm hay biết và nhãn căn hẳn phải ở ngoài hư không, để quay lại nhìn mặt ông. Rốt cuộc thành lỗi tâm và mắt ở ngoài, sao thành nghĩa “ở trong thân” được?

Nếu ở hư không, tự nhiên không phải thân thể của ông. Tức như Như Lai, nay thấy mặt ông, cũng là thân ông sao?

Tâm và mắt ở hư không, quay lại thấy mặt ông, thế thì đã lìa khỏi ông, tự nhiên không còn là tự thể của ông nữa. Sau câu này, nên bổ túc ý: Nếu ông nhất định chấp rằng, cái thấy lìa khỏi thân cũng không ngại gì, vẫn là tự thể của mình. Nối tiếp qua câu sau: Vậy nay như Như Lai cách biệt với thân ông, đang thấy mặt ông, chẳng lẽ cũng là thân thể của ông sao?

Như thế mắc lỗi “nhận người khác làm mình”.

Mắt nếu đã biết, thân phải không biết.

Giả như chấp rằng cái thấy của Như Lai cũng là thân mình. Thế thì mắt ông đã biết, thân ông lẽ ra phải không hay biết. Như vậy mắc lỗi “thân trở thành không biết”.

Chấp rằng cái thấy của Như Lai cũng là thân mình: Nghĩa là đem cái thấy ở hư không nhìn về mặt, nhận là mắt mình. Mắt ấy đang thấy biết, tức cái biết đã ở ngoài rồi, thế thì nơi thân không còn cái biết nữa.

Nếu nhất định chấp, thân mắt đều biết, thế thì thành ra có hai cái biết. Một thân A-nan, thành hai ông Phật?

Đây sợ chuyển sang chống chế rằng: mắt tuy ở hư không, nhưng ngại gì việc thân và mắt đều biết?

Nên Phật phá rằng: Nếu ông nhất định chấp thân và mắt đều giác biết, thì một người như ông phải có hai cái biết. Cái biết nơi thân chính là Phật tánh, ông lại có hai cái, tức một thân A-nan sẽ thành hai ông Phật. Há có lẽ ấy ư?

Tỵ ba – Chính thức kết luận phá chấp

Vì vậy nên biết: ông nói thấy tối là thấy trong thân, thật không có lý.”

Chính vì nhất định không thấy được trong thân, nên phải biết rằng: ông nói nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân, thật không có lẽ ấy.

Mạch lập luận của bài này dài hơn. Tỵ một phá sở kiến là đi theo lối thường. Nếu chuyển chấp con mắt có thể quay vào trong, thì dẫn qua Tỵ hai phá năng kiến.

Nhưng thật ra ý chính của bài rất đơn giản:

Đương cơ quay lại chỗ chấp ban đầu là tâm ở trong thân, giải thích lý do không thấy được bên trong là vì bị tối, chứ lúc nhắm mắt chính là đang thấy trong thân. Nhưng chúng ta đều biết, cái tối đó là do mí mắt che nhãn cầu, nào đâu phải trong thân!

Sở dĩ bài này phức tạp vì vào thời đó, những việc như con mắt quay vào, tâm và mắt xuất khỏi thân ra ngoài hư không, hoàn toàn có thể tin được. Nên Phật phải tùy cơ phá cho đủ. Ngược lại, có những thứ ở thời đó phá đơn giản, nhưng với chúng ta, vì hiểu biết theo khoa học nên quá trình phá sẽ phức tạp hơn. Đến bài sau sẽ rõ.

“Mẹo bốn – Chấp tâm phân sáng tối” hết.

* Văn kinh Việt dịch

* Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *