CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 25

Vọng thức không phải tâm – A-nan tự trách & Phật phóng quang

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Chúng ta đang ở đâu?

Nội dung kỳ này

Dần một – A-nan tự trách, cầu chỉ dạy

Bấy giờ, A-nan ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày hở vai phải, gối phải chấm đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:

Bảy chỗ chấp đều đã bị phá. Đến đây, A-nan muốn bỏ chỗ vọng, cầu Phật chỉ dạy chỗ chân, nhưng vẫn chưa hiểu ý Phật. Phật phá nơi chốn, là muốn ông ngộ hiểu: thức ấy không có tự thể, chẳng phải tâm. Nay lại cầu Phật nói chỗ của tâm, đủ thấy ông vẫn nhận thức làm tâm, cho thức có tự thể. Chỉ hận chưa biết nó ở đâu, nên mới tự trách và cầu chỉ dạy.

Từ chỗ ngồi đứng dậy: Vì đang ngồi nghe pháp, muốn thỉnh cầu chỉ dạy nên đứng dậy.

Bày hở vai phải: tức bày lộ ra phần da thịt ở vai phải. Ở nước ta, để lộ da thịt bị xem là bất kính. Còn ở Ấn Độ, đó là biểu hiện cung kính, nhưng chỉ để lộ bên vai phải.

Vai bên phải dùng để lao dịch, nên cử chỉ vén áo vai phải thể hiện nghi thức sẵn sàng hầu hạ bề trên.

Gối phải chấm đất: Vì gối phải có sức, quỳ được lâu mà vẫn vững, lại dễ đứng dậy.

Chắp tay: khép mười đầu ngón tay lại với nhau.

Trên là thuộc về thân nghiệp chí thành.

Cung kính: nghiêm trang gọi là “cung”, tôn trọng gọi là “kính”; thuộc ý nghiệp chí thành.

Bạch Phật: là hướng lên thưa bạch với Phật, thuộc khẩu nghiệp chí thành.

Đoạn này do người kết tập đặt vào, tự thuật nghi thức thỉnh pháp.

“Con là em nhỏ nhất của Như Lai, được Phật yêu chiều. Tuy đã xuất gia, vẫn cậy Phật thương. Vì thế chỉ lo nghe nhiều, chưa được vô lậu. Không thể khắc chế chú Sa-tì-la, bị chú xoay chuyển, sa vào nhà dâm.

Bốn vị vua có tám người con, A-nan là người nhỏ tuổi nhất, nên nói: “Con là người em nhỏ nhất của Như Lai.” Vì quen được Phật yêu chiều, nên nay dù đã xuất gia, vẫn cậy có Phật thương xót, chỉ lo học rộng nghe nhiều, chưa được vô lậu.

Phải chứng Tứ quả A-la-hán, không còn dục lậu – hữu lậu – vô minh lậu, mới được gọi là “vô lậu”. A-nan mới chứng Sơ quả, chưa được vô lậu, định lực còn yếu; nên không đủ sức chống lại chú thuật Sa-tì-ca-la, bị tà chú xoay chuyển, sa vào nhà dâm.

Đều do không biết chân tế ở đâu!

Vế này lẽ ra đi cùng với câu trước: “Không thể khắc chế chú Sa-tì-la, bị chú xoay chuyển, sa vào nhà dâm, đều do không biết chân tế ở đâu!”

Nhưng vì ngài Viên Anh dùng ý “chưa được vô lậu” để giảng nối qua câu “Không thể khắc chế…”, nên câu đó đi chung với phần trước, còn vế này bị ngắt lẻ loi ở đây.

“Chân tế” là chân như thật tế, một tên khác của chân tâm; cũng chính là “Như Lai Tạng” được nói trong kinh này, thể của định Thủ-lăng-nghiêm.

A-nan nêu tên “chân tế”, tựa hồ giống vậy. Nhưng thật ra vẫn chưa hiểu, cái tâm ông đang chấp giữ chẳng phải là chân tế! Dù ở trước, bảy chỗ đều đã bị phá, ông vẫn muốn tìm nơi ở của tâm. Chỉ vì tự mình không biết, nên thỉnh cầu Phật chỉ bày. Ý ông là: con không thể hàng phục tà chú, đều do không biết tâm này ở đâu!

A-nan vẫn nhận thức làm tâm, cái sai này không nhỏ. Vì thế ở văn sau, Phật quát thẳng cái ấy chẳng phải tâm, lại chỉ rõ nó không có tự thể, khiến ông có thể xả vọng mà cầu chân.

Cúi mong Thế Tôn, đại từ thương xót, khai thị đường Sa-ma-tha cho chúng con, khiến bọn Xiển-đề diệt Di-lệ-xa.”

Đây là cầu Phật thuyết chỗ chân thật. Vì không biết chỗ của tâm thì không có đường tu đại định, nên mong Phật rủ lòng đại từ, thương xót chúng con ở trong đường mê đã lâu, mà chỉ bày con đường Sa-ma-tha.

“Sa-ma-tha”, tên thứ nhất trong ba tên A-nan thỉnh hỏi, là thể sở y của định Thủ-lăng-nghiêm, tức thể lý bản giác, tự nhiên vốn định, không sanh diệt, không lay động. Còn sự khai giải, tỏ rõ thể ấy, gọi là Sa-ma-tha vi mật quán chiếu. “Quán chiếu” là dụng của trí thủy giác, nương chánh nhân Phật tánh mà khởi liễu nhân Phật tánh, tức tuệ của định.

“Đường” tức là con đường tu chứng. Nếu chưa ngộ chân như thật tế thì đường ấy chưa thông.

Ngài Viên Anh ghi “con đường tu chứng”, nhưng không nên hiểu là chính thức tu chứng Phật định. Vì phần Sa-ma-tha chỉ nói về tánh, không nói về tu. Theo mình, hoặc hiểu theo nghĩa chứng ngộ, hoặc theo ý thưa thỉnh của ngài A-nan, rằng biết được chỗ của tâm, có chỗ nương để tu chứng Phật định, gọi là đường Sa-ma-tha.

Ở đây có ba khái niệm: Sa-ma-tha, Sa-ma-tha vi mật quán chiếu, và con đường Sa-ma-tha. Mình đang hiểu quan hệ giữa chúng như sau:

  • “Sa-ma-tha” là thể sở y của định Lăng-nghiêm, tức cái thể mà đại định nương vào.
  • “Sa-ma-tha vi mật quán chiếu” là khai giải, soi tỏ cái thể lý ấy; tức ngộ được Như Lai mật nhân, chân tâm bản tánh.
  • “Con đường Sa-ma-tha” là thứ dẫn lối, khiến thành tựu Sa-ma-tha vi mật quán chiếu.

Cũng lưu ý rằng, không phải lúc nào ba khía cạnh này cũng được nêu tên rạch ròi, mà chỉ gọi chung là “Sa-ma-tha”. Người học phải chú ý ngữ cảnh để biết nên hiểu theo nghĩa nào. Có thể nói, Sa-ma-tha bao hàm ba nghĩa này, cũng như Thủ-lăng-nghiêm bao hàm ba tên Sa-ma-tha, Tam-ma và Thiền-na vậy.

A-nan muốn biết tâm ở đâu, dự định để tiến tu Phật định, nên sốt sắng cầu Phật khai thị con đường Sa-ma-tha. Nhưng không biết rằng ở trước, “gạn hỏi tâm” và “phá nơi chốn” đã là đang mở bày con đường Sa-ma-tha rồi. Chính vì cái tâm ông chấp giữ chẳng phải chân thật, nên đường Sa-ma-tha bị nó ngăn bít. Văn sau, Phật phá vọng thức không phải tâm, vọng thức không tự thể, chính là dẹp bỏ chướng ngại trên đường Sa-ma-tha. Còn chỉ tánh thấy, hiển chân tâm, hội sự về lý, hội tướng về tánh, đều là mở bày con đường Sa-ma-tha vậy.

Khiến bọn Xiển-đề diệt Di-lệ-xa: Kinh Niết-bàn nói “Nhất-xiển-đề” nghĩa là lòng tin không đủ, hoặc thiêu đốt thiện căn, tức các chúng sanh đã đoạn mất căn lành. “Diệt” nghĩa là hoại diệt, phá bỏ. “Di-lệ-xa” nghĩa là ưa thích nhơ uế, cũng dịch là tri kiến ác. Những người Xiển-đề này không tin Phật pháp, toàn mang tri kiến thiên lệch, tà vạy, bất chính.

A-nan cầu Phật chỉ bày chân tế, khai mở đường Sa-ma-tha, ý rằng: Trước đây vì không biết con đường này, chưa thành tựu định lực, nên mới bị tà chú nhiếp phục, sa vào nhà dâm. Nếu Như Lai khai thị đường Sa-ma-tha cho chúng con, thì không những có thể khiến chúng con thành tựu định lực, hàng phục ma chướng, chế ngự ngoại đạo, mà ngay cả những kẻ Nhất-xiển-đề tà ma ngoại đạo, khi nghe được cũng sẽ phá ác sanh thiện.

Vì thế nói: Khiến những chúng sanh không đủ lòng tin, đoạn mất căn lành, cũng có thể trừ bỏ ác tri kiến mà được chánh tri chánh kiến.

Nói rồi năm vóc gieo xuống đất, cùng với đại chúng, hết lòng khát ngưỡng, cung kính mong nghe lời Phật giáo huấn.

Đây cũng là lời người kết tập, tự thuật lại nghi thức.

“Năm vóc” là đầu, hai tay và hai chân. Thuật rằng: A-nan không những cúi đầu, mà còn gieo cả năm vóc xuống đất, biểu thị lòng thành khẩn tột cùng. Ông cùng đại chúng đều hết lòng khát ngưỡng, thành kính mong chờ—như người khát mong uống nước, như chim non chờ mẹ mớm—được nghe lời khai thị và giáo huấn của Phật.

Dần hai – Như Lai hiển phát “không phải tâm”

Mẹo một – Phóng quang biểu thị tướng phá hiển

Bấy giờ, Thế Tôn từ nơi cửa mặt, phóng ra các thứ ánh sáng. Hào quang ấy rực rỡ sáng ngời, như trăm ngàn mặt trời!

Đây là Phật phóng quang để biểu thị các tướng phá vọng – hiển chân.

Phá vọng thực chất là để hiển chân, vì vọng không phá thì chân không hiển. Nên Phật từ nơi cửa mặt phóng quang (để biểu thị việc đó), dùng giáo pháp không lời, khiến hội chúng xúc cảnh mà khế hội nơi tâm.

“Cửa mặt” là nơi năm căn cùng tụ hội. Cửa mặt của chúng sanh cũng suốt ngày phóng quang, tiếc rằng mê nên không biết! Như A-nan mê mờ tối tăm, suốt ngày bội giác hợp trần, nhận vật làm mình, nên bảy lần suy lường đều sai. Còn Như Lai phát minh liền giải thoát, trọn ngày bội trần hợp giác, dung vọng tức chân, vì thế sáu căn đều đúng.

Bội: nghĩa là làm trái, quay lưng lại; như phản bội, bội ước, v.v..

Ở đây Phật chính muốn phá sáu thứ vọng thức phan duyên, hiển bày chân tánh hiện lượng nơi sáu căn, nên từ cửa mặt phóng quang để biểu thị việc ấy.

Hào quang ấy: chỉ ánh sáng từ các căn nơi cửa mặt phóng ra, nhằm hiển thị diệu lý bản giác và diệu trí thủy giác không lìa nơi căn.

Rực rỡ sáng ngời: tướng sáng cực kỳ mạnh mẽ.

Ví như trăm ngàn mặt trời: Chỉ một mặt trời trên không là đã chiếu khắp không sót nơi nào, huống chi trăm ngàn! Đây để biểu thị quang minh của tự tánh, soi sáng đất trời.

Ánh sáng này không phải chỉ riêng Phật có, mà tất cả chúng sanh đều có. Mê thì tựa như mất, ngộ thì hiển lộ. Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền nói: “Có một bậc chân nhân không ngôi vị, ở ngay đầu cửa sáu căn của các ông, phóng quang động địa. Những ai chưa nhận ra được, hãy nhìn! Hãy nhìn!” Có thể nói, Lâm Tế đã thâm đắc ý chỉ Như Lai từ cửa mặt phóng quang vậy.

Khắp các thế giới chư Phật, sáu thứ chấn động. Mười phương vi trần quốc độ, đồng thời hiển hiện.

Khắp các thế giới chư Phật: tức khắp tất cả các thế giới của chư Phật trong mười phương.

Sáu thứ chấn động: động – khởi – vọt, ba thứ này thuộc về hình; chấn – hống – kích, ba thứ này thuộc âm thanh; biểu thị sáu thứ vọng thức sắp bị phá.

“Vi trần” là bụi nhỏ trong hư không, dùng để ví số lượng cõi nước trong mười phương nhiều vô kể. Khi sáu thức chưa phá, do duyên theo cảnh trần nên tự che lấp chân trí, thường ở trong tối tăm, vô lượng cảnh giới mà trí có thể soi (trí cảnh) đều không thể hiển hiện. Nay nêu biểu sáu thức sắp bị phá, bỏ sanh diệt, giữ chân thường, ánh sáng thường trụ (thường quang) hiện tiền, vì thế vi trần quốc độ đồng thời hiển hiện.

Có người có thể nghi ngờ việc này. Hãy tạm lấy việc chụp X-quang làm thí dụ, tuy cách qua quần áo và da thịt, các cơ quan trong thân vẫn được nhìn thấy rõ ràng. Phương tiện của con người còn có thể vượt qua sự ngăn che, thấy được những điều mắt thường không thấy. Vậy thì đối với những cảnh giới xưa nay bị che lấp, nay đồng thời hiển hiện khi ánh sáng trí tuệ khai mở, có gì đáng nghi ư?

Oai thần của Phật khiến các thế giới hợp thành một giới.

Vì có vọng thức, chấp ngã chấp pháp, phân biệt ta người, nên hết thảy thế giới thành ra cách biệt. Nay nhờ sức oai thần của Phật, phá thức hiển căn, hội tướng về tánh; nên vô biên cõi nước, mình và người, không còn sự ngăn cách dù chỉ trong gang tấc, cuối cùng dung hợp thành một—tức nhất chân pháp giới.

Trong thế giới ấy, hết thảy chư đại Bồ-tát đều ở tại cõi nước của mình, chắp tay vâng nghe.

Chư đại Bồ-tát an trụ nơi bản địa phong quang, được toàn thể chiếu dụng, nên tâm nghe thông suốt, trùm khắp các cõi nước. Hiển bày rằng: căn, trần, cùng hết thảy các pháp, vốn là tánh Như Lai Tạng diệu chân như, bất động chu viên!

Nghĩa là các vị Bồ-tát không cần rời cõi của mình để đến chỗ pháp hội, vẫn ở nguyên nơi bản quốc mà có thể chắp tay nghe pháp.

Bản địa phong quang (本地風光): “Bản địa” là chỗ gốc, vùng đất quê hương bản xứ; “phong quang” là cảnh sắc, quang cảnh. Trong Phật pháp, cụm này chỉ cảnh giới chân thật của tự tâm, lúc chưa bị vọng che lấp. Nhà Thiền gọi là “bản lai diện mục” (bộ mặt thật xưa nay). Còn với Lăng-nghiêm thì là chỗ ngài Viên Anh nói ở câu kế: tánh Như Lai Tạng diệu chân như, bất động chu viên. Ở lần hiển kiến thứ tám, văn kinh có câu “Mười phương Như Lai, cùng chư đại Bồ-tát, tự trụ trong Tam-ma-địa”, tức chính là trụ nơi bản địa phong quang!

Được toàn thể chiếu dụng (全體照用): tức cái dụng soi chiếu được phát huy toàn vẹn.

Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ ánh sáng này, nhưng vì sống trong tối tăm nên không tự biết. Mê chân chấp vọng, trong thì bị sáu căn giới hạn, ngoài thì bị sáu trần ngăn che, giữa lại bị sáu thức giam cầm. Vì thế, nơi thế gian hữu tình (thân, tâm) thì chịu sự trói buộc, nơi thế gian vô tình (thế giới) thì không thể vượt thoát, ta – người ngăn cách, công năng thấy nghe yếu kém.

Nếu chịu bỏ thức dùng căn, rút khỏi cái dính, nhiếp phục vào trong, trở về nguồn chân, phát khởi cái minh diệu vốn có; thì tự nhiên có thể cùng chư đại Bồ-tát nắm tay đồng hành, thở chung một lỗ mũi.

“Mẹo một – Phóng quang biểu thị tướng phá hiển” hết.

* Văn kinh Việt dịch

* Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *