CHUADUOCSU.ORG
CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 3

GIÁP HAI – NHÂN DUYÊN KHỞI GIÁO
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Pháp không tự khởi, đã khởi tất có nguyên do. Việc đời thế gian còn có nhân duyên, huống chi Phật pháp vô thượng, lại không có hay sao? Nay nói về nhân duyên của Phật pháp, có cái chung cái riêng.
Cái chung là xét một đời giáo hóa của Phật. Trong 49 năm, khi thì nói Đại thừa, khi thì nói Tiểu thừa, hoặc nói Đốn giáo, hoặc nói Tiệm giáo, nhưng không gì ngoài việc hiển lý và độ sanh. Cái lý được hiển bày chính là tri kiến Phật. Chúng sanh tuy sẵn có, nhưng vì mê nên không tự biết. Phật nhân đó ứng hiện nơi đời, vì họ mà khai thị, khiến được ngộ nhập. Kinh Pháp Hoa nói: “Như Lai vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời.” Có thể thấy, việc Như Lai xuất thế chính là đại nhân duyên để độ chúng sanh vậy.
Bắt đầu bung nội hàm của “đại sự nhân duyên” ra:
Một, vì muốn khai tri kiến Phật cho chúng sanh, khiến được thanh tịnh, nên xuất hiện ở đời.
Phật tri kiến chính là tánh thấy – nghe – hay – biết, ở nơi sáu căn của chúng sanh. Tánh này cũng tức là Phật tánh, người người vốn đủ. Tiếc rằng vì bị chôn vùi trong trần lao phiền não, sự cấu nhiễm nơi tâm, nên tuy có mà như không, tựa như kho báu chôn trong nhà. Phật vì muốn khai mở cho chúng sanh của báu sẵn có ấy, khiến lìa cấu nhơ, được thanh tịnh, nên xuất hiện ở đời.
Hai, vì muốn thị (chỉ bày) tri kiến Phật cho chúng sanh, nên xuất hiện ở đời.
Tri kiến của Phật, chúng sanh đều cho rằng chỉ riêng Phật có, còn mình không phần. Nên Phật vì họ mà chỉ bày, ngay trong sinh hoạt hằng ngày, nhãn căn thấy sắc, nhĩ căn nghe tiếng, cho đến ý căn biết pháp, mỗi mỗi đều là tri kiến Phật. Hai chữ “tri kiến” (biết và thấy) bao quát tánh của cả sáu căn, sáu căn chỉ là một tánh. Nên Tổ sư Lâm Tế nói: “Có một bậc chân nhân không ngôi vị, ở ngay đầu cửa sáu căn của các ông, phóng quang động địa”, chính là ý này vậy.
“Phóng quang động địa” nghĩa đen là phóng ánh sáng làm kinh động đất trời. Về mặt công dụng thì hoàn toàn có thể làm được như thế, nhưng ở đây nên hiểu theo nghĩa: Tánh của chúng ta ở ngay sáu căn, diệu dụng chiếu soi hiện tiền như đang rúng động đất trời. Cái cảm giác rúng động này, người ngộ tâm sẽ hiểu được vậy.
Ba, vì muốn khiến chúng sanh ngộ tri kiến Phật, nên xuất hiện ở đời.
Đã được Như Lai khai thị rồi, chúng sanh cần y theo lời dạy mà quán tâm, y lý mà khởi hạnh. Chỉ cần chịu hồi quang phản chiếu, trong suốt cả ngày, thấy sắc – nghe tiếng – biết pháp, rốt cuộc là ai? Cứ thế trải qua lâu ngày, tự nhiên sẽ đến lúc bỗng nhiên thông suốt, ngộ rõ xưa nay mình vốn là Phật. Được vậy mới thật tin rằng, Thánh – phàm không hai, chúng sanh và Phật bình đẳng.
Hồi quang phản chiếu: Xoay ánh sáng tinh thần trở lại, soi chiếu ngược vào trong. Khác với trạng thái thông thường của chúng ta là chạy theo cảnh bên ngoài. Như mắt thấy cảnh đẹp thì chạy theo ngắm nhìn, chụp ảnh. Cho đến tai theo tiếng, mũi theo mùi, lưỡi theo vị, thân theo xúc chạm. Vì ánh sáng tinh thần cứ hướng ra ngoài, nên xưa nay chưa từng biết mình là ai. Đến khi cảnh ngoài thay đổi, chỗ bấu víu không còn nữa, liền bị chênh vênh, khủng hoảng.
Tập trung tinh thần vào một câu hỏi, một sự trăn trở (khán thoại đầu) có lẽ là cách mà ngài Viên Anh ngộ tâm tánh. Còn mình thì ngồi thiền, như đã kể ở bài giới thiệu. Tuy có nhiều cách khác nhau, nhưng chung quy đều cần hồi quang phản chiếu cả.
Bốn, vì muốn khiến chúng sanh nhập tri kiến Phật, nên xuất hiện ở đời.
Tâm quang (ánh sáng tinh thần) của chúng sanh phân tán ra ngoài thì gọi là xuất. Còn nếu thường soi vào trong, soi đến tận nguồn của tâm, thì gọi là nhập. Nhập mà không có chỗ để nhập, tức trí thủy giác chiếu soi lý bản giác. Soi đến khi hoặc sạch, trí tròn, chuyển tám thức thành bốn trí. Ấy gọi là nhập vào đạo tri kiến Phật.
Bốn điều này là đại sự nhân duyên khiến Như Lai xuất hiện ở đời, cũng là nhân duyên chung của Phật giáo vậy.
Mục đích chỉ có một, nhưng vì chúng sanh căn cơ sai khác, nên Phật mới phải thuyết đủ thứ giáo pháp, bày ra đủ thứ pháp môn. Nếu hiểu cái cơ duyên chung này, sẽ tự thấy sự đấu đá giữa các tông phái, sự tranh cãi Tiểu thừa hay Đại thừa, nguyên thủy hay không nguyên thủy,… thảy đều vô nghĩa, khác nào thầy bói xem voi!
Còn nhân duyên riêng tức là duyên khởi của từng kinh riêng biệt. Với bản kinh này, Pháp sư Giao Quang nêu ra mười ý, nay tôi chọn ra sáu:
- Cậy đa văn, lơ là định lực
- Cảnh tỉnh cuồng tuệ, bảo hộ khỏi tà tư
- Chỉ chân tâm, hiển căn tánh
- Dạy tánh định, khuyên thật chứng
- Tiêu vọng tưởng điên đảo, trừ các hoặc vi tế
- Làm rõ hai môn, giúp ích đời này đời sau
Một, cậy đa văn, lơ là định lực:
Đa phần những người căn cơ lanh lợi, chỉ ưa học rộng nghe nhiều mà không siêng tu định lực. Đối với ba môn văn – tư – tu (học/nghe – suy ngẫm – tu tập) thì thiên nặng về văn tuệ, ít đụng đến tư và tu. Cũng như người chỉ biết nói tên món ăn, rốt cuộc không thể no bụng. Vì thế kinh này dùng việc “A-nan đa văn mà vẫn rơi vào nhà dâm nữ” để phát khởi đại giáo.
Xem A-nan khi quay về chỗ Phật, đỉnh lễ khóc lóc, tự nói rằng: “Con hận từ vô thủy đến nay, một bề chỉ lo nghe nhiều, chưa tròn đạo lực”, rồi tha thiết thỉnh hỏi đại định mà mười phương Như Lai đã tu để đắc thành Bồ-đề; đủ thấy học nhiều không có công hiệu, không bằng thực sự tu tập.
Về sau Phật quở A-nan: “Ông tuy trải lịch kiếp, ghi nhớ giữ gìn pháp môn bí mật nhiệm mầu của Như Lai, cũng không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa lìa hai cái khổ yêu và ghét ở thế gian.”
Bồ-tát Văn-thù lại nói trong bài kệ rằng: “Đem cái nghe đi giữ gìn Phật pháp, sao không tự quay về nghe cái nghe?”
Phật vì việc A-nan cậy học rộng nghe nhiều, lơ là định lực, nên nói kinh này.
Hai, cảnh tỉnh cuồng tuệ, bảo hộ khỏi tà tư:
Ở đời có hạng phàm phu tâm tư lớn, thấy cái lý cao diệu, bèn tự cậy mình có tánh thiên chân, gạt bỏ việc tu chứng, khinh nhờn dung dưỡng thói ác, hoàn toàn không nương theo phương tiện của Phật. Thế rồi bị ma ái dục khuất phục, không đủ lực địch lại cái khổ. Như A-nan bị tà chú của Ma-đăng-già nhiếp giữ, tâm tuy rõ biết nhưng không tự chủ được, phải nhờ thần chú của Phật mới thoát nạn.
Thế nên A-nan tự thuật, do thấy hảo tướng của Phật mà phát tâm xuất gia, tâm niệm tướng ấy chẳng thể do ái dục sanh ra; hiển lên cái ý rằng, dâm ái là giặc thù của đại định, còn đại định là vị tướng phá giặc dục. Kệ của ngài Văn-thù rằng: “Dục lậu nếu không trừ bỏ trước, thì học nhiều lại thành lầm lỗi.”
Cuồng tuệ: Có tuệ mà không có định, nên bị cái tuệ làm cho phát cuồng. Đây là những người hay thích bàn luận, nói những điều cao thâm. Nhưng bên trong không lo tu tập, lại dùng lý lẽ để che đậy lỗi lầm của mình.
Còn tà tư cũng tức là tà niệm, ác kiến—quan điểm hoặc kiến chấp sai lầm. Ở đây ngài Viên Anh chỉ đề cập cái tà tư nguy hại nhất là ái dục. Vì tập khí tham ái đã ngấm sâu từ bụi kiếp, âm thầm dai dẳng trong tạng thức, rất khó trừ sạch; hơn nữa lại là oan gia số một của đại định. Ngoài ra thì trong kinh còn cảnh tỉnh các loại tà tư khác khiến người tu lạc đường như Bảy cõi thú, Năm ấm ma,…
Cuồng tuệ và tà tư có liên hệ với nhau. Vì trong đầu tích chứa nhiều lý lẽ cao xa, nhưng không tu tập để dứt trừ tập khí xấu ác, rốt cuộc khó tránh khỏi rơi vào tà niệm. Nên bài kệ của ngài Văn-thù nhắc, nếu không trừ dục lậu thì tích chứa kiến thức chỉ thêm lầm lỗi.
Phật vì muốn cảnh tỉnh cuồng tuệ, bảo hộ khỏi tà tư, nên nói kinh này.
Ba, chỉ chân tâm, hiển căn tánh:
Hết thảy chúng sanh, phần nhiều đều lầm nhận cái tâm thịt (quả tim hoặc bộ não) là tâm mình. Phá tâm thịt không phải chân tâm còn dễ. Phá ý thức vọng tưởng không phải chân tâm mới khó. Vì cái chấp của chúng sanh đã sâu, gốc mê khó nhổ. Chẳng riêng gì hạng phàm phu tầm thường, ngay cả Quyền giáo và Tiểu thừa cũng đều nhận ý thức làm tâm.
Nên khi A-nan thỉnh Phật thuyết đại định mà chư Phật đã tu, Phật trước tiên bảo rằng: “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối tiếp, đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh, mà chỉ dùng vọng tưởng. Vọng tưởng không thật, vì thế luân chuyển.” Dẫn đến hai lần hỏi tâm, ba phen phá thức, mười lần hiển kiến. Ý Phật là: Muốn tu đại định, phải dùng chân tâm làm nhân tu căn bản, hiển bày tâm ấy chính là toàn thể của đại định. Vì thế phải thêm bước gạn hỏi, xem A-nan có nhận lầm hay không.
Phật hỏi A-nan: “Khi mới phát tâm, ông thấy có gì hay trong Phật pháp mà xả bỏ được ân ái sâu nặng của thế gian?” A-nan đáp: “Do mắt thấy tướng mạo thù thắng của Như Lai, tâm sanh yêu mến, nên con phát nguyện lìa sanh tử.” Phật liền hỏi: “Vậy tâm và mắt của ông hiện ở đâu?” Đó là lần thứ nhất hỏi tâm.
A-nan lần lượt nêu ra bảy chỗ của tâm. Từng nơi Như Lai đều bác bỏ, cả thảy bảy lần đều không phải. Trong ba phen phá thức, đây là phá vọng thức không nơi chốn.
Vì bảy nơi đều bị phá, A-nan không biết rốt cuộc tâm mình ở đâu. Như Lai liền chỉ thẳng chân tâm, muốn khiến A-nan ngay đó mà lãnh ngộ. Bèn đưa bàn tay ra rồi nắm lại, xem A-nan lĩnh hội ra sao. Đây cũng giống như trong Tông môn, khơi gợi và thầm chỉ sâu xa, không lệ thuộc vào ngôn ngữ hay văn tự.
Tông môn: Tức Thiền tông.
Như Lai đưa bàn tay ra để chỉ chân tâm, cũng giống như khi cầm cành hoa sen ở hội Linh Sơn. Đại chúng lúc ấy ngơ ngác, chỉ riêng ngài Ca-diếp mỉm cười lãnh ngộ.
Như Lai e ngại A-nan căn cơ chậm lụt, không khế hợp được, nên phải hỏi thêm: “Ông có thấy không?” A-nan thưa thấy. Phật lại hỏi: “Ông thấy cái gì?” A-nan đáp: “Con thấy Như Lai giơ tay, co ngón lại thành nắm tay sáng ngời, chói lòa tâm và mắt con.” Phật lại hỏi: “Ông dùng cái gì để thấy?” Đáp: “Con cùng đại chúng đều dùng mắt để thấy.” Phật tiếp lời: “Mắt ông thấy, vậy ông lấy gì làm tâm để đối lại với nắm tay của tôi?” Đây là lần thứ hai hỏi tâm.
A-nan thưa: “Như Lai lại hỏi tâm ở đâu. Nay con nghĩ ngợi suy xét, chính cái hay suy nghĩ tìm cầu ấy là tâm con.” Thế thì đã rõ, A-nan nhận vọng thức làm chân tâm. Phật quát: “Thôi đi A-nan! Cái đó không phải tâm ông!” Đây là phen thứ hai phá thức, phá vọng thức không phải tâm.
A-nan giật mình: “Cái ấy không phải tâm con thì là cái gì?” Phật liền bảo: “Đó chỉ là cái tưởng đến tướng hư vọng của tiền trần, khiến ông mê mờ chân tánh.”
A-nan nghe Phật nêu rõ vọng thức không phải tâm, cho rằng ngoài cái giác tri này ra thì mình không còn gì khác, nên sanh lòng kinh sợ. Phật dạy rằng cái tâm ấy chỉ là nhớ tưởng đến cảnh trần hư vọng, rời trần thì không có tự thể. Khiến A-nan tự nghiệm xét: Nếu lìa trần mà vẫn có tự thể thì đúng là tâm ông. Còn không thì chỉ là bóng dáng phân biệt tiền trần mà thôi. Đây là phen thứ ba phá thức, phá vọng thức không có tự thể. Không chỉ quả tim hay bộ não không phải chân tâm, mà cái vọng tưởng hay khéo phân biệt cũng không phải tâm. Lại không riêng gì những tâm niệm xấu ác phải trừ bỏ, mà đến cả năm thứ công năng thắng thiện của ý thức cũng không chấp lấy.
Năm công năng thắng thiện của ý thức, trong kinh lần lượt thuật rõ:
- Thấy tướng hảo của Phật, thường tự nghĩ rằng tướng ấy chẳng phải do ái dục sanh ra.
- Nghe lời dạy của Phật, ghi nhớ giữ gìn pháp môn bí nhiệm của Như Lai, mãi mãi không quên.
- Nghe pháp rồi lĩnh giải, ngộ tâm diệu minh, viên mãn thường trụ.
- Dừng tán loạn, vào tịch tĩnh, cho đến diệt hết thấy – nghe – hay – biết, bên trong chỉ giữ lấy sự u tịch.
- Thủ chứng ngoài tam giới, được Diệt tận định, thọ – tưởng không hiện hành, thành A-la-hán.
Năm thứ này đều là công năng thắng thiện của ý thức, nên người ta khó buông bỏ. Nhưng với kinh này, muốn tu Phật định thì nhất quyết phải dứt trừ ý thức, vì nó không phải là nhân của Bồ-đề.
Trong kinh, Phật phân định hai căn bản chân – vọng, bảo A-nan rằng: “Người tu không thể thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ thành Thanh văn – Duyên giác, thậm chí thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương cùng bọn quyến thuộc; đều do không biết hai thứ căn bản. Tu tập lầm lạc, như muốn nấu cát thành cơm, trải vi trần kiếp, rốt cuộc vô ích. Một là căn bản sanh tử từ vô thủy (vọng bản). Tức như ông hiện nay, dùng tâm phan duyên (tức ý thức) làm tự tánh. Hai là Bồ-đề Niết-bàn từ vô thủy, thể vốn thanh tịnh (chân bản). Tức như ông hiện nay, thức tinh nguyên minh (tức căn tánh) hay sanh các duyên, lại bị duyên bỏ sót.” Chỉ vì chúng sanh bỏ quên cái chân, nhận lầm cái vọng, nương căn bản vọng mà tu, nên dù có thành tựu chín bậc định, rốt cuộc cũng không phải quả chân thật.
Ở quyển thứ nhất, qua ba phen phá thức, phá sạch không sót, A-nan mới chịu bỏ vọng cầu chân, cầu chỉ dạy tâm tánh tịch thường. Chỉ nguyện Như Lai khai cái tâm diệu minh (tức căn tánh, căn bản chân), mở con mắt đạo cho con (cầu khai viên giải). Sau đó là mười lần hiển kiến (tánh thấy), chỉ căn tánh chính là chân tâm. Cổ đức nói: “Chỗ hiển kiến là để hiển tâm”, chính là ý này vậy.
Trước là mười lần hiển bày, hiển tột cái chân:
- Hiển kiến là tâm
- Hiển kiến bất động
- Hiển kiến bất diệt
- Hiển kiến không mất
- Hiển kiến không hoàn
- Hiển kiến không tạp
- Hiển kiến vô ngại
- Hiển kiến bất phân
- Hiển kiến siêu tình
- Hiển kiến lìa kiến
Sau thì nói hai vọng kiến, lược phá phần vọng (khác với phá thức, căn bản toàn vọng).
A-nan đã cầu chỉ chân tâm, nên Như Lai không thể không chỉ. Nhưng ngay nơi chúng sanh mà chỉ ra cái tâm thuần chân không vọng, thì tuyệt nhiên không chỉ được. Vì thế đành mang theo vọng mà hiển chân (đới vọng hiển chân), rồi sau mới tách vọng ra để được cái thuần chân (phẫu vọng xuất chân).
Pháp sư Giao Quang dùng dụ làm sáng tỏ lý này rất khéo: “A-nan nhận thức là tâm, ví như kẻ ngu chấp hòn đá là ngọc, không chịu buông bỏ. Phật vì thế đới vọng hiển chân, chỉ tánh thấy là tâm, như chỉ khối đá chứa ngọc mà nói là ngọc. Khối quặng thô ấy tuy là ngọc, nhưng còn lớp đá chưa phá nên ngọc chưa thuần. Đến khi phá hai vọng kiến là đồng phận và biệt nghiệp, như phẫu tách lớp đá, thì ngọc sáng mới hiện ra vậy.
Phật vì muốn chỉ bày chân tâm, hiển lộ căn tánh (Như Lai mật nhân), nên nói kinh này.
Bốn, dạy tánh định, khuyên thật chứng:
Phàm phu – ngoại đạo – Tiểu thừa – Quyền tông, trong sự tu của mình, mỗi bên đều có chỗ đắc định riêng. Nhưng thảy đều không rốt ráo. Tại sao vậy? Vì họ tuy ham thích chân tu, nhưng không am tường chân bản, toàn dùng thức tâm, tu tập lầm lạc.
Như kinh nói: “Dù cho diệt hết thấy – nghe – hay – biết, bên trong chỉ giữ lấy sự u tịch, thì cũng vẫn là phân biệt bóng ảnh pháp trần.” Thế thì hàng phàm phu cõi trời, ưa tu thiền mà chưa biết quyết trạch, chỗ tu hành tám bậc định của họ há có thể ra ngoài cảnh giới ấy sao?
Tám bậc định:
- Bốn bậc định của Sắc giới (gọi tắt là Tứ thiền): Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền
- Tiếp bốn bậc của Vô sắc giới (gọi tắt là Tứ không): Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ
Ngoài kia có những người dạy tám bậc định này, làm ra vẻ cao thâm huyền bí để thu hút quần chúng hâm mộ. Tệ hơn nữa là mấy ông thầy tự xưng chứng được định này định kia. Chỉ người học Lăng-nghiêm mới biết, tự xưng chứng quả đều là bọn ma tà. Dù cho không xưng, tám bậc định này chỉ là phàm phu hữu lậu, có gì đáng hâm mộ?
Kinh lại nói: “Phân biệt đều không, chẳng phải sắc, chẳng phải không, mà bọn Câu-xá-ly mê muội nhận là minh đế.” Thế thì biết chỗ tu định của hết thảy ngoại đạo, cũng là dùng cái tâm duyên trần ảnh.
Minh đế: Chỗ u minh mờ mịt không thấy tới, cho đó là chủ đế, chủ thể/bản tánh của thế gian.
Lại nói: “Hết thảy người tu trong thế gian, hiện tại tuy thành tựu chín bậc định, nhưng không hết sạch các lậu, chỉ thành A-la-hán, đều do chấp vào vọng tưởng sanh tử, lầm là chân thật.” Thế thì biết, chỗ dụng tâm của Tiểu thừa cũng không phải tâm chân thật.
Chín bậc định: Thêm bậc thứ chín là “Diệt tận định” của A-la-hán.
Lại nữa, sau khi Như Lai quở phá thức tâm, A-nan kinh sợ thưa: “Nếu cái ấy không phải tâm, thì con không có tâm, như cây như đất. Cả đại chúng đây, không ai là không nghi hoặc!” Đại chúng khi ấy hẳn là bao gồm Quyền giáo Bồ-tát. Thủy giáo Quyền thừa toàn dùng ý thức để quán ngã không – pháp không. Cái định mà họ tu có nhập – trụ – xuất, nên không phải tánh định rốt ráo kiên cố.
Thủy giáo Quyền thừa: “Thủy” có nghĩa bắt đầu, khả năng là đối lại với “Chung giáo”. Dựa vào ngữ cảnh, mình hiểu cụm này chỉ thời kì đầu của Đại thừa, thuộc Quyền giáo.
Như trên đã nói, bốn hạng này rốt cùng không được quả chân thật. Phàm phu và ngoại đạo khi mất định, thì hoặc là giảm phước mà đọa xuống các cõi dưới, hoặc là từ cõi trời Vô Tưởng, do phỉ báng Tam Bảo mà đọa thẳng địa ngục. Tiểu thừa tuy không đọa (do đã hết luân hồi sanh tử), nhưng kẹt vào cảnh Niết-bàn, không thể tiến thêm. Quyền giáo tuy có thể tiến chút ít, song không thể đi xa. Xét căn nguyên của bệnh, chung quy đều do dùng tâm sanh diệt làm nhân tu, nên không thể phát minh được tánh bất sanh diệt.
Phát minh: Một từ đặc thù và phổ biến trong Phật học. Bạn lưu ý, nó không cố định một nghĩa “phát minh” như tiếng Việt hiện đại. “Phát” có nghĩa khai phát, phát ra, mở ra, dấy lên, hưng khởi,… Còn “minh” ở đây là sáng tỏ, rõ ràng, minh bạch. Nên tùy ngữ cảnh mà “phát minh” có thể có những nghĩa sau: làm sáng tỏ/chỉ rõ/nêu rõ, khai phát/hiển lộ rõ ràng ra, làm dấy lên/hưng khởi ra,… Giờ bạn đã hiểu “phát minh” ở câu trên chưa?
Trong kinh sau khi A-nan thỉnh định, Như Lai trước hết ba phen phá thức, chính là quyết định khiến xả thức tâm sanh diệt, loại bỏ chướng ngại của đại định; rồi sau mới rộng bày tánh thấy không sanh diệt, không lay động, quyết định khiến ngộ tự tánh vốn định, y vào căn tánh chân thường làm nhân địa tâm, để về sau viên thành quả địa tu chứng.
Cuối quyển bốn nói: “Nếu bỏ sanh diệt, giữ nơi chân thường, quang minh hiện tiền thì căn trần thức ngay đó tiêu tan” cho đến “sao chẳng thành Vô thượng tri giác?” Bài kệ ở quyển năm nói: “Tam-ma-đề như huyễn, búng tay vượt vô học.” Đó đều là lời chỉ dạy phàm – ngoại – Quyền – Tiểu, khiến tu tánh định chân thường, đắc chứng viên thông chân thật vậy.
Quyển sáu, Bồ-tát Văn-thù vâng mệnh tuyển căn, dùng kệ đáp Như Lai rằng: “Phương này chân giáo thể, thanh tịnh tại âm – văn. Thủ chứng Tam-ma-đề, thật phải từ tánh nghe.” Lại nói: “Một đường vào Niết-bàn, của vi trần chư Phật.” Cho đến kết rằng: “Chỉ dùng căn này tu, viên thông vượt hơn cả, tu tâm chân thật vậy.” Những đoạn này đều là khéo khai mở pháp môn tu, chỉ dạy tánh định.
Đến quyển tám, Như Lai tường tận liệt kê các ngôi vị, cũng đều vì muốn dẫn dắt người tu thâm nhập dần đến ngôi thật quả mới thôi!
Phật vì muốn chỉ dạy tánh định, khuyên tu thật chứng, nên nói kinh này.
Năm, tiêu vọng tưởng điên đảo, trừ các hoặc vi tế:
Cũng vì chúng sanh, tánh nguyên minh bị vọng thức nhiễu loạn, mất sự sáng suốt, nên mê mờ cho rằng tâm ở trong thân, hoặc lầm nhận pháp ở ngoài tâm, hoặc cố chấp lý nhân duyên mà tự trói mình nơi Quyền tông, hoặc lầm chấp lý tự nhiên mà rong ruổi theo ngoại đạo. Thảy đều là vọng tưởng điên đảo, chướng ngại chân tu.
Trong kinh, lần thứ chín hiển kiến siêu tình, chính để dẹp bỏ hai thứ vọng tình chấp trước—nhân duyên và tự nhiên. Lấy nghĩa Như Lai Tạng bất biến để phá lý nhân duyên, còn nghĩa Như Lai Tạng tùy duyên để phá lý tự nhiên. Tụ hội bốn khoa, mỗi mỗi đều là tánh Như Lai Tạng diệu chân như, chẳng phải nhân duyên hay tự nhiên. Dung thông bảy đại, mỗi mỗi đều trách người đời vô tri, lầm nhận là nhân duyên – tự nhiên. Thảy đều là sự so đo phân biệt của ý thức, chỉ được lời nói suông, hoàn toàn không có nghĩa chân thật. Những nội dung đó đều để tiêu trừ vọng tưởng điên đảo vậy.
Vọng tưởng điên đảo tuy tiêu, nhưng các hoặc vi tế chưa hết. Dù tin các pháp duy tâm, nhưng chưa thấu triệt được cội nguồn duy tâm. Đã biết năm đại viên dung, nhưng chưa nắm được chỗ sâu xa của sự viên dung ấy. Nên tánh định vẫn còn bị chướng ngại.
Vì thế Phú-lâu-na nối tiếp phần trước mà nêu ra hai nghi vấn:
- Nghi vì sao vạn pháp sanh tục: “Nếu hết thảy căn – trần – ấm – xứ – giới trong thế gian đều là Như Lai Tạng thanh tịnh bản nhiên, cớ sao bỗng sanh ra núi sông, đại địa,… các tướng hữu vi, lớp lớp dời đổi, cứ hết rồi lại bắt đầu, nối tiếp tương tục không dứt?”
- Nghi nguyên do năm đại viên dung: “Như Lai nói rằng, ‘đất – nước – gió – lửa – hư không, bản tánh viên dung, cùng khắp pháp giới, trạm nhiên thường trụ.’ Thưa Thế Tôn! Nếu tánh của đất cùng khắp, làm sao dung được nước? Tánh nước cùng khắp, lửa ắt không sanh? Hơn nữa, tánh của nước và lửa đều cùng tận khắp hư không mà sao chẳng tiêu diệt lẫn nhau? Thế Tôn! Tánh hư không rỗng thông, còn tánh đất ngăn ngại, vì sao cả hai lại cùng khắp pháp giới được? Con không biết nghĩa ấy rốt cuộc quy về đâu.”
Hai điều nghi này đều thuộc hoặc vi tế.
Như Lai lần lượt đáp giải nghi. Đầu tiên nói về Bất không Tạng, chỉ bày nguyên nhân vạn pháp sanh tục: Lỗi do thêm “minh” vào tánh giác, vọng làm “minh giác”. Từ đó ba tế dấy lên, sáu thô tranh khởi, nên có ba thứ thế giới – chúng sanh – nghiệp quả, lúc đầu bỗng sanh, sau đó tương tục. Cũng như dụi mắt, hoa đốm loạn hiện.
Sau đó nói về Không bất không Tạng, chỉ bày nguyên do năm đại viên dung, dùng dụ để làm sáng tỏ tánh – tướng vô ngại. Văn rằng: “Ví như hư không, thể chẳng phải tướng, mà không ngăn các tướng phát huy”. Năm đại cũng như thế, mỗi mỗi tướng vọng – tánh chân. Tướng vọng, vốn không sanh diệt hay tranh đoạt, thì làm sao có sự ngăn ngại? Tánh chân, vốn chẳng phải nước hay lửa, đã có thể dung hợp thì muôn dụng cùng diệu.
Hai lời đáp này chính là thẩm trừ.
Nguyên phần vấn đáp này gọi là “thẩm trừ hoặc vi tế”, nên mới có hai câu kết: Hai điều nghi là hoặc vi tế, còn hai lời đáp là thẩm xét để trừ bỏ hai cái hoặc ấy.
Nhắc lại cho bạn mới, những nội dung này về sau đều sẽ được học chi tiết.
Phú-lâu-na tiếp tục truy hỏi nguyên nhân của vọng để tính bề tiến tu. Phật đáp vọng vốn không nhân. Ví như anh chàng Diễn-nhã-đạt-đa, mê đầu nhận bóng, cuồng sợ hão huyền, há có nhân duyên gì? Bỗng cơn cuồng chợt dứt, cái đầu chẳng phải từ ngoài gắn vào. Dẫu lúc đang điên, đầu cũng chưa từng mất!
Cho đến ba duyên đoạn dứt, ba nhân không sanh, thì trong tâm ông, cơn cuồng Diễn-nhã-đạt-đa tự hết. Hết rồi thì tức là Bồ-đề, thắng tịnh minh tâm, tròn khắp pháp giới.
A-nan nhân lời Phật, nghe “nhân” nghe “duyên”, lại chấp vào lý nhân duyên. Như Lai bèn tiếp tục phủi sạch cái tình chấp ấy: Chẳng phải tự nhiên, chẳng phải nhân duyên. Tự nhiên và nhân duyên đều lìa. “Lìa” và “hợp” đều không. Được vậy thì mới là pháp không hí luận.
Tầng tầng lớp lớp các thứ quanh co vi tế như thế, Phật đều tường tận chỉ bày. Nhờ vậy mới được “nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng”.
Phật vì muốn tiêu vọng tưởng điên đảo, trừ các hoặc vi tế, nên nói kinh này.
Sáu, làm rõ hai môn, giúp ích đời này đời sau:
Chỉ giáo pháp nhà Viên Thật mới có thể gồm đủ hai môn.
Viên Thật: Viên giáo và Thật giáo. Chi tiết về các giáo sẽ được nói ở phần “Nghĩa lý cạn sâu”.
Môn: Như trong “môn học”, “chuyên môn”,… Cũng có thể hiểu là “cửa” theo nghĩa bóng.
Một – Môn Bình đẳng:
Một tâm và muôn pháp, gốc vốn không hai, bình đẳng một tướng. Tâm là thể của pháp môn đại tổng tướng. Hết thảy thế gian cùng xuất thế gian, Thánh – phàm, nhiễm – tịnh, y – chánh, nhân – quả, không gì chẳng phải từ tâm kiến lập, lấy tâm làm thể. Lìa tâm thì không một pháp nào có thể được. Tức như trong kinh nói: “Các pháp phát sanh, duy tâm biến hiện. Tất cả nhân quả, thế giới, hạt bụi, đều nhân tâm thành thể.”
Y – chánh: Nói tắt của Y báo và Chánh báo. Chánh báo là quả báo chánh yếu, tức chúng sanh hữu tình. Y báo là quả báo nương theo, tức thế giới vô tình (môi trường sống) mà chúng sanh nương ở.
Có thể được: “Khả đắc”. Hoặc diễn đạt ngược lại là “bất khả đắc”. Ý nói không có thực thể riêng để nắm bắt, không tồn tại độc lập được.
Tâm và pháp tuy hai tên, kỳ thực chỉ một thể một tướng, bình đẳng không sai khác. Như từ vàng mà làm đồ trang sức, tuy thành ra nhiều loại, nhưng vốn vẫn là vàng. Lìa vàng thì không món nào có thể được. Tâm sanh muôn pháp, pháp pháp duy tâm, cũng giống như thế. Chỉ có một chân là thật, các vọng vốn không. Tất cả các tướng sai khác như Thánh – phàm, nhiễm – tịnh, y – chánh, nhân – quả, rốt ráo đều bất khả đắc. Đây là chỗ của nhà Viên Thật, “biết chân vốn có, rõ vọng vốn không”, chẳng như tà kiến bác bỏ nhân quả.
Hai – Môn Phương tiện:
Ở nơi các pháp, phân ra chân – vọng, cho phép phá – hiển, nên có mê – ngộ, tu – chứng, các thứ sai khác. Vì chân tuy vốn có, nhưng mê đã lâu, nếu không có phương tiện hiển bày thì rốt không thể thấy. Còn vọng tuy vốn không, nhưng chấp đã sâu, nếu không dùng phương tiện phá trừ thì rốt không thể tỉnh. Ngay cả khi đã thấy biết rành rẽ, nhưng nếu không nương phương tiện để xả vọng – theo chân, thì rốt cuộc cũng không thể thâm nhập.
Kinh này thuộc nhà Viên Thật, khéo dùng phương tiện dẫn dắt. Tuy biết mê – ngộ chỉ một đường, Thánh – phàm không hai lối, nhưng vẫn khéo từ cửa phương tiện mà giản trạch chân – vọng, để rồi bỏ vọng theo chân. Đến khi vào sâu thì dung tất cả thành một vị, biết chân vốn có, rõ vọng vốn không. Không như Quyền tông, chân – vọng hai phía, mê – ngộ cách biệt.
Lăng-nghiêm gồm đủ hai môn Bình đẳng và Phương tiện. Ngay trong lời thỉnh hỏi của đương cơ đã hàm ý ấy—vừa thỉnh đại định viên dung, lại cầu phương tiện bắt đầu. Phật lần lượt đáp ba tên, trong ấy hoặc dùng cả hai môn, hoặc mỗi môn dùng riêng, xem văn kinh có thể thấy.
Như phần Sa-ma-tha, trước tiên dùng môn Phương tiện để quyết trạch chân – vọng: Đối với thức thì ba phen phá vọng, khiến người quyết định xả bỏ. Đối với kiến thì mười lần hiển chân, khiến người quyết định nắm lấy. Không hề có tướng bình đẳng.
Đến khi chân – vọng đã phân, chân thể đã lộ, A-nan đã chịu bỏ vọng theo chân, nếu chỉ hạn cục chân thể ở trong căn mà không dung thông với muôn pháp, thì làm sao tỏ viên lý, khai viên giải, thành tựu Sa-ma-tha vi mật quán chiếu được?
Vì thế sau đó dùng môn Bình đẳng: Tụ hội bốn khoa tức tánh thường trụ, dung thông bảy đại tức tánh chu biến. Ba thứ sanh tục không ngoài một tâm, năm đại viên dung toàn thể pháp giới. Cùng tột nơi ba Như Lai Tạng, lìa “tức” lìa “phi”, là “tức” cùng “chẳng phải tức”. Thảy đều thuộc môn Bình đẳng.
Không có Phương tiện thì chân vọng lẫn lộn, làm sao ngay nơi thể mà thấy được cái chân? Không có Bình đẳng thì chân vọng ngăn cách, làm sao ngộ viên lý mà vào chỗ nhiệm mầu? Nên muốn chỉ bày tánh định thì phải đủ cả hai môn vậy.
Phần Tam-ma thì chuyên dùng môn Phương tiện—chọn lựa diệu môn để tu đại định. Văn rằng: “A-nan, nay ông muốn khiến thấy – nghe – hay – biết, xa hợp với Như Lai thường – lạc – ngã – tịnh, trước hết phải lựa bỏ căn bản sanh tử, y vào tánh viên trạm bất sanh diệt làm nhân địa tâm”, cho đến “viên thành quả địa tu chứng”. Lại nói: “Chỉ từ một cửa mà thâm nhập. Vào đến chỗ một căn không còn vọng thì cả sáu căn đồng loạt thanh tịnh.” Hơn nữa, nói về chỗ kết thì chỉ riêng sáu căn, tuyển chọn pháp môn thì chuyên nghe một tánh. Giản trạch phân minh như thế thì toàn thuộc môn Phương tiện, nghĩa ấy hiển nhiên vậy.
Thiền-na lại chuyên dùng môn Bình đẳng, hướng về cực quả viên dung. Phần Ba tiệm thứ, văn rằng: “Ngược dòng về một tánh, sáu dụng không hiện hành. Mười phương quốc độ sáng soi thanh tịnh. Ví như ngọc lưu ly, bên trong treo vầng trăng sáng. Thân tâm khoan khoái, diệu viên bình đẳng, được đại an ổn.” Từ đầu Mười tín đã dùng tâm này mà “trung trung lưu nhập”. Mười hồi hướng trở về sau, không gì chẳng phải pháp pháp viên dung, toàn quy về bình đẳng, nghĩa ấy càng rõ vậy.
Kinh này, không chỉ khiến đại chúng lúc ấy được lợi ích, mà còn làm duyên thù thắng cho đời sau. Ở quyển hai, trước khi phá hai vọng kiến điên đảo, Như Lai bảo A-nan: “Tôi sẽ vì ông mà phân biệt khai thị, cũng để giúp những người hữu lậu trong tương lai được quả Bồ-đề.” Trước phần bảy đại, Như Lai lại nói: “Tôi sẽ vì ông mà phân biệt khai thị, cũng để khiến người tu Đại thừa ở đời vị lai được thông đạt thật tướng.”
Những lời như thế, trong kinh chẳng phải chỉ một hai lần. Thật vì đời Mạt pháp nghiệp chướng nặng nề, nên lòng bi thương nhớ nghĩ lại càng sâu. Ngài Văn-thù khi tuyển pháp môn viên thông cũng xin gia hộ cho chúng sanh trầm luân đời mạt kiếp. Còn Như Lai khi chỉ bày phân biệt ma sự trong thiền định, cứ ân cần dặn đi dặn lại: “Các ông nhất định phải đem lời của Như Lai, truyền dạy lại cho đời Mạt pháp.”
Phật vì muốn làm rõ hai môn, làm lợi ích cho đời này đời sau, nên nói kinh này.
“Giáp hai – Nhân duyên khởi giáo” hết.
