CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 4

Giáp ba – Tạng – thừa sắp đặt

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết kinh này có đại nhân duyên, vậy về tạng và thừa thì nên xếp kinh vào đâu?

Về tạng thì có ba, thuyết giảng ba cái học là giới – định – tuệ:

  • Kinh giảng về định học.
  • Luật giảng về giới học.
  • Luận giảng về tuệ học.

Cổ đức nói: “Xét ba tạng thì theo phần chính, không theo phần phụ; theo phần nhiều, không theo phần ít.” Trong Lăng-nghiêm, A-nan thỉnh định, Như Lai đáp định, chính là giảng về định học. Tuy có nói giới và tuệ nhưng chỉ là phần phụ, lấy giới – tuệ để trợ giúp cho định mà thôi.

Phần bốn luật nghi trọng yếu, lấy việc nhiếp tâm làm giới, để từ giới sanh định. Còn phần ba tiệm thứ, bước đầu nêu ra giới phẩm, chung quy là để bảo hộ tâm định.

Đến phần nói về bảy cõi thú:

  • Hiển bày ba đường ác khổ đau dữ dội, khiến người dè chừng nhân ác không dám phạm.
  • Hiển bày bốn đường lành rốt vẫn luân hồi, khiến người buông xả quả vui không tham đắm.

Không gì ngoài mục đích lấy giới trợ định.

Cho đến phân biệt tường tận về năm ấm ma:

  • Cảnh tỉnh ngoại ma đang rình rập, dặn dò chớ theo tà giải, kẻo chiêu vời ma nhập.
  • Phơi bày nội ma đang ẩn tàng, dặn dò chớ khởi tà ngộ, kẻo lạc vào đường tà.

Không gì ngoài mục đích lấy tuệ trợ định.

Vậy nên kinh này từ đầu đến cuối toàn quy về đại định, trong ba tạng thì thuộc về Kinh tạng.

Về thừa thì có hai, tức Đại thừa và Tiểu thừa.

Người tu Tiểu thừa căn cơ nhỏ, chí nguyện nhỏ, chỉ cầu lợi riêng, mong mau chóng ra khỏi ba cõi để không còn sanh tử. Ví như cỗ xe nhỏ, chỉ có thể độ mình, không thể độ người khác.

Người tu Đại thừa căn cơ lớn, chí nguyện lớn; có thể tin đại giáo, hiểu đại lý, tu đại hạnh, chứng đại quả; vừa tự tu hành vừa hóa độ người khác. Ví như cỗ xe lớn, đã có thể tự độ, lại hay độ cho người.

Độ: Vận chuyển từ bờ này sang bờ kia.

Kinh này, trong hai thừa thì thuộc Đại thừa. Vì những điều đương cơ thưa hỏi toàn là hạnh của Bồ-tát Đại thừa. Ở quyển bốn, A-nan thỉnh cầu “cửa vào nhà đẹp”, văn rằng:

“Mong Như Lai chẳng bỏ lòng đại bi, chỉ dạy cho con cùng những người mờ tối trong hội, xả bỏ Tiểu thừa, rốt ráo nhận được con đường phát tâm khởi tu vào Niết-bàn vô dư của Như Lai. Khiến hàng hữu học biết cách nhiếp phục tâm phan duyên, được đà-la-ni, vào tri kiến Phật.”

Thêm nữa, Như Lai trước đó bảo Phú-lâu-na cùng các vị vô học trong hội rằng:

“Hôm nay Như Lai vì pháp hội này mà tuyên nói tánh chân thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến hàng Thanh văn định tánh, cùng nhóm A-la-hán hồi hướng thượng thừa chưa chứng nhị không; đều được nhất thừa, tràng địa tịch diệt, chỗ tu hành chân chính a-lan-nhã.”

Nên phần chính của kinh thuộc nhất thừa đồng giáo, đồng thời kèm theo nhất thừa biệt giáo. Ngoài ra, do không phế bỏ quả vị và giới phẩm của Tiểu thừa, nên cũng có thể nói là kiêm luôn Tiểu thừa.

Phần xếp đặt vào thừa khá vắn tắt, nên mình giải thích thêm cho bạn mới.

Chữ “thừa” có nghĩa cỗ xe. Trong Phật giáo, hàm ý của “thừa” được phát triển thành: Giáo lý của Phật có công năng vận chuyển như cỗ xe, đưa chúng sanh từ điểm này đến điểm kia.

Có nhiều cách chia thừa, mặc định và phổ biến nhất là chia hai: Đại thừa và Tiểu thừa. Ngoài ra, còn có thể chia ba thừa là: Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát (từ “nhị thừa”, chỉ hai thừa Thanh văn và Duyên giác, có lẽ bắt nguồn từ đây).

Hoặc nếu muốn bao gồm nhóm tu phước thiện thế gian thì chia năm thừa: Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.

Đến kinh Pháp Hoa, Phật phế bỏ tất cả, tuyên bố chỉ có một Phật thừa (nhất thừa). Về lý do có nhiều thừa, Phật giải thích trong Pháp Hoa: “Trí tuệ ta chứng được, vi diệu bậc nhất. Chúng sanh căn cơ độn, tham chấp cái vui, lại bị si mê che mù. Hạng như thế, sao có thể độ được?” Nên từ sau Hoa Nghiêm, rời khỏi gốc cây bồ-đề, Phật tạm gác lại Phật thừa, chỉ nói ba thừa, một mực dùng Quyền giáo dẫn dắt chúng sanh.

Nhất thừa có hai loại là đồng giáo  biệt giáo. Đồng giáo nghĩa là giáo pháp chung, tuy nói nhất thừa nhưng có ý dung thông với ba thừa. Còn biệt giáo là giáo pháp biệt lập cho căn cơ lớn, không dính líu đến ba thừa, nói về cảnh giới viên dung “thuần nhất thừa”, điển hình như “pháp giới sự sự vô ngại” trong kinh Hoa Nghiêm.

Kinh Lăng-nghiêm dẫn dắt các căn cơ từng bước vào đại định, nên chủ yếu thuộc nhất thừa đồng giáo. Có đề cập cảnh giới viên dung nhất thừa của chư Phật và đại Bồ-tát, nên kèm theo nhất thừa biệt giáo. Và do không phế bỏ quả chứng, giới phẩm của Tiểu thừa, nên cũng coi như kiêm luôn Tiểu thừa.

Nhưng thật ra nếu nói “kèm theo”, thì ba thừa hay năm thừa Lăng-nghiêm đều đủ cả. Vì trong phần bảy thú, đường đi nhân quả của cõi người cõi trời, thậm chí từ địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, đều được chỉ rõ.

Tóm lại, xét chung trên hai thừa thì Lăng-nghiêm thuộc Đại thừa, còn phân tích sâu hơn thì thuộc nhất thừa đồng giáo.

Hỏi: Hiện nay nhiều nơi kiêng kị gọi là “Tiểu thừa” vì có ý khinh chê, nên gọi là Nguyên thủy/Nam tông mới đúng?

Ở kỳ trước, bạn đã biết hai môn Bình đẳng và Phương tiện rồi, tuy không hoàn toàn tương đồng nhưng có thể theo tinh thần đó mà hiểu về các thừa.

Như trên đã nói, chư Phật ra đời vốn chỉ muốn nói kinh Hoa Nghiêm, chỉ một Phật thừa bình đẳng viên dung chứ không có Đại hay Tiểu gì cả. Nhưng vì trong đời ngũ trược bừng bừng, chúng sanh căn cơ ngu độn, đối trước cảnh giới viên dung nhất thừa, làm sao tiếp nhận nổi? Nên để dẫn dắt chúng sanh, Phật tạm lập ra các phương tiện, chia Phật thừa thành các thừa. Đã là phương tiện phân chia, sao tránh khỏi những sự sai khác như nhanh chậm, lớn nhỏ, hơn kém?

Nay giáo pháp Tiểu thừa dùng để dẫn dắt căn cơ nhỏ mới vào đạo thì gọi thẳng là Tiểu, sao lại phải kiêng dè? Cũng như trường học chia ra tiểu học, trung học và đại học, mục đích là để thấy rõ tiến trình đi lên, chứ đâu phải để bậc cao khinh bậc thấp.

Gặp người cố chấp, không muốn họ sân giận, thì thôi tùy thuận mà gọi theo ý họ. Còn tự mình phải rõ, Tiểu và Đại là hai con đường nối tiếp nhau, chứ không phải hai đường độc lập có cùng đích đến (dạng như các tông phái).

Thế nên với người thông đạt hai môn Bình đẳng và Phương tiện, thì từ nhỏ mà hướng về lớn, lớn rồi thì biết dung nhỏ, khoan thai tự tại. Còn người không thông thì ỷ lớn mà khinh chê nhỏ, chấp nhỏ mà bài bác lớn, tranh cãi thị phi mãi không thôi, rốt cuộc tự chuốc cái họa dài trong sanh tử!

Hỏi: Có nhiều vị tuy tu Tiểu thừa nhưng hay giảng dạy và dìu dắt quần chúng, sao ở trên lại phán “chỉ cầu lợi riêng, không thể độ người khác”?

Đó là những người tuy tu Tiểu thừa nhưng có tấm lòng Bồ-tát. Về sau họ hoàn toàn có thể tiến lên Đại thừa, Phật thừa, chứ đâu nhất thiết ở Tiểu thừa mãi.

Chỉ là nếu chấp giữ Tiểu thừa thì về lâu dài không thể rộng độ chúng sanh hoặc nuôi chí nguyện lớn được. Bởi vì Tiểu thừa chỉ bàn tự lực mà không nương tha lực, chỉ biết tự lợi mà không có phương tiện lợi tha, chỉ phá chấp ngã mà không phá chấp pháp… Lại còn nhiều giới hạn khác không tiện kể hết. Chung quy vì chỉ là phương tiện tạm đặt ra ban đầu, sự tu học chưa đến nơi đến chốn, nên mới ví như cỗ xe nhỏ, dù muốn cũng không thể chở người khác.

Như ngay kinh này, A-nan nhàm chán Tiểu thừa mà cầu tiến lên Phật đạo, Phú-lâu-na tuy đã là A-la-hán (ngôi cao nhất của Tiểu thừa) nhưng mê lầm vi tế còn chưa hết. Về sau học tới sẽ tự hiểu vậy.

“Giáp ba – Tạng – thừa sắp đặt” hết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *