CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 5

Giáp bốn – Nghĩa lý cạn sâu

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết kinh này là giáo pháp Đại thừa, vậy nghĩa lý trong ấy sâu cạn ra sao?

Ý thật trong văn gọi là nghĩa. Chủ thể của sự gọi là . Thánh nhân khi thiết lập giáo pháp thì dùng lý để thống nhiếp, dùng nghĩa để khai triển. Lý là thể, vốn chỉ có một, nhưng tùy theo căn cơ mà nghĩa có cạn sâu. Nghĩa là tướng, tuy nhiều hình trạng, nhưng quy về gốc lý thì vốn không sai biệt. Nếu không để tâm nghiên cứu kĩ thì sao biết được ranh giới cạn sâu của nó?

Nay xét kinh này, trước tiên y theo tông để phán định giáo pháp, kế đó dựa vào luận để biện rõ nghĩa lý, sau cùng dung thông với tông Thiên Thai.

Muốn đo lường kinh Lăng-nghiêm thì cần có cây thước đủ tốt. Ở đây ngài Viên Anh dùng năm giáo của tông Hiền Thủ và Đại Thừa Khởi Tín Luận.

Về tông thì Trung Quốc xưa nay có hai tông lớn: phương Nam có tông Thiên Thai, phương Bắc có tông Hiền Thủ.

Thiên Thai y theo kinh Pháp Hoa mà lập tông, phân định giáo pháp một đời của Như Lai thành bốn nhóm: Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo.

Hiền Thủ dựa vào kinh Hoa Nghiêm mà lập tông, phân định giáo pháp một đời của Như Lai thành năm nhóm: Tiểu giáo, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo, Viên giáo.

Nay xin tuân theo tông Hiền Thủ. Trước tiên nêu ra năm giáo:

  1. Tiểu giáo: Cũng gọi là giáo pháp nhị thừa. Tùy theo căn cơ mà lập phương tiện, chỉ có 75 pháp để phân tích vạn hữu. Chỉ nói về ngã không (phá chấp ngã), chứ không biết pháp không (phá chấp pháp). Chỉ y vào sáu thức và ba độc (tham, sân, si) để kiến lập cái gốc của nhiễm và tịnh, chứ không thấu tận nguồn pháp. Vì thế có nhiều sự tranh luận.
  2. Thủy giáo: Thuyết các pháp đều không, tức Không tông. Có “phá” mà không có “hiển”, chưa nói hết nghĩa lý của Đại thừa, nên gọi là Thủy giáo. Ngoài ra cũng gọi là Phần giáo, tức Tướng tông, bàn nhiều về tướng của pháp, ít nói đến tánh của pháp. Lại có chia phần “thành Phật” (hai hạng có Phật tánh: quyết định tụ, chúng sanh bất định tụ) và “không thành Phật” (ba hạng không có Phật tánh: Thanh văn định tánh, Bích-chi Phật, chúng sanh tà định tụ), nên gọi là Phần giáo. Dù có nói chút ít về tánh của pháp, cũng chỉ ở trong phạm vi pháp tướng/danh số. Họ thuyết có 100 pháp, quyết trạch phân minh, nên có ít sự tranh luận.
  3. Chung giáo: Thuyết Như Lai Tạng tùy duyên thành A-lại-da thức; các pháp duyên khởi không tự tánh, hết thảy đều là chân như. Hàng nhị thừa định tánh, cùng bọn Xiển-đề không Phật tánh, rốt cùng đều sẽ thành Phật. Như vậy mới nói hết được chỗ cùng cực của Đại thừa. Vì thế gọi là Chung giáo, cũng tức là Thật giáo. Đa phần bàn về tánh của pháp, ít nói đến tướng của pháp. Dù có nói tướng thì cũng quy về tánh để xứng với lý thật, nên không có sự tranh luận.
  4. Đốn giáo: Không theo tuần tự thứ lớp các địa vị, cũng không nói đến tướng của pháp, chỉ bàn về chân tánh. Năm pháp (danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như) và ba tự tánh (biến kế chấp, y tha khởi, viên thành thật) đều không. Tám thức và hai vô ngã (người vô ngã, pháp vô ngã) cũng bỏ. Quở trách sự chấp trước vào giáo lý, ngôn thuyết. Chỉ dạy lìa niệm. Dứt tướng, lặng tâm, một niệm không sanh thì tức là Phật.
  5. Viên giáo: Tổng nhiếp hết thảy về một pháp giới, biển tánh viên dung, duyên khởi vô ngại. Thân thể – sợi lông – hạt bụi – cõi nước đều có thể thiệp nhập lẫn nhau, trùng điệp vô tận. Sau khi viên mãn Mười tín thì đã hàm nhiếp năm mươi ngôi vị, thành Đẳng chánh giác, nên gọi là Viên.

Ở đây chỉ lược dẫn, nếu muốn chi tiết, xin tra Hiền Thủ Ngũ Giáo Nghi.

Phần nội dung này hơi khó, bạn nào từng đọc nhiều kinh ở các thời kỳ giáo hóa khác nhau, từ Tiểu thừa đến Đại thừa, thì mới hình dung được. Nhưng cũng không cần bận tâm chuyện học rộng, cứ đi sâu một vài kinh, về lâu dài bề rộng sẽ tự đến.

Bài trước có nói, kinh Lăng-nghiêm thuộc nhất thừa đồng giáo, đồng thời nhiếp hết các thừa. Nên nếu bạn chịu học kĩ Lăng-nghiêm thì về sau đọc bất kỳ kinh luận nào cũng hiểu được!

Ghi chú của mình:

  • Tiểu giáo cũng tức là Tiểu thừa, giáo pháp dành cho nhị thừa Thanh văn – Duyên giác. Trong 75 pháp của Tiểu thừa, có thể thấy chỉ có một Tâm pháp là ý thức. Còn Tâm sở hữu pháp  Tâm bất tương ưng hành pháp chung quy đều là công dụng và các trạng thái của ý thức. Nên ngoài ý thức thì Tiểu thừa không còn biết cái tâm nào khác.
  • Đến Đại thừa thì chia ra Thủy giáo và Chung giáo. Thủy giáo có hai nhánh là Không tông và Tướng tông. Cũng có thể hiểu là cùng một thứ mà theo hai hướng tiếp cận. Vì tướng của pháp là không, tiếp cận từ bên không thì thuộc Không tông, còn từ bên tướng thì thuộc Tướng tông.
  • Trong Tướng tông có Pháp tướng tông/Duy thức/Duy biểu. Hiểu đơn giản là cùng một thứ, chẳng qua vì cách tiếp cận (hoặc hệ quy chiếu) mà gọi tên khác. Gọi Tướng tông là để đối lại với Không tông. Gọi Pháp tướng tông để nhấn mạnh sự phân tích pháp tướng, danh số,…. Gọi Duy thức để nhấn mạnh ý “vạn pháp duy thức”. Còn Duy biểu là cách gọi riêng của Làng Mai, không được công nhận rộng rãi.
  • Trong Đốn giáo thì nổi bật nhất là Thiền tông. Thiền tông bắt nguồn từ sự kiện ở hội Linh Sơn, Phật giơ cành hoa sen để chỉ tánh thấy/chân tâm. Chỉ riêng ngài Ca-diếp lãnh hội nên về sau được Phật trao truyền y bát. Đó là biểu tượng ấn chứng người đệ tử ấy sẽ kế thừa mạch của Thiền tông, âm thầm trao truyền ngoài kinh điển. Còn “dẹp bỏ năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã” là nội dung thuộc kinh Lăng-già.
  • Viên giáo: Nhiếp hết cả bốn giáo kia thành một pháp giới viên dung vô ngại. Dựa vào nội dung ở đây, mình thấy tông Hiền Thủ dành riêng tầng giáo này cho Hoa Nghiêm. Còn Lăng-nghiêm và Pháp Hoa thuộc về Chung giáo. Khác với tông Thiên Thai, họ dựa theo Pháp Hoa mà lập tông nên tôn kinh ấy là Viên giáo.

Nếu căn cứ vào năm giáo để hiển bày cấp bậc và ranh giới của Lăng-nghiêm, thì trong kinh phần nhiều bàn về pháp tánh, ít nói đến pháp tướng, dù có nói pháp tướng thì cũng quy về tánh.

Như chỉ rõ bốn khoa đều là bản chân, dung thông bảy đại không gì chẳng phải Tạng tánh. Phú-lâu-na truy cứu nguyên nhân vạn pháp sanh tục, Như Lai đáp rằng lỗi do một niệm giác minh. Thêm nữa, mười hai loài chúng sanh vốn có gốc là chân như, tức chính là Như Lai, thể giáo thành Phật. Hàng nhị thừa hồi tâm thì cũng đều sẽ thành Phật.

Nên phần lớn của kinh chính thuộc Chung Thật giáo.

Quyển bốn nói: “Tánh cuồng Diễn-nhã-đạt-đa tự hết. Hết rồi thì tức là Bồ-đề, tâm thắng tịnh minh, bản lai cùng khắp pháp giới, không từ người mà được. Sao phải nhọc nhằn gân cốt, khổ công tu chứng?” Bài kệ ở quyển năm: “Tên gọi Diệu Liên Hoa, Kim cương vương Bảo giác. Tam-ma-đề như huyễn, búng tay vượt vô học.” Nên đây cũng kiêm thuộc Đốn giáo.

Quyển bốn nói: “Tôi dùng tánh diệu minh không sanh diệt hợp với Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng thuần diệu giác minh, viên chiếu pháp giới. Nên ở trong đó, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ (bốn nghĩa); đạo tràng bất động cùng khắp mười phương, một thân bao hàm hư không vô tận, nơi đầu sợi lông hiện cõi Bảo vương, ngồi trong hạt bụi chuyển đại pháp luân (bốn tướng).” Bốn nghĩa giao triệt, bốn tướng vô ngại, ba Tạng viên dung, quy nơi tột cùng. Chẳng những lý – sự vô ngại, mà đến cả sự – sự cũng đều vô ngại.

Rồi quyển mười nói: “Thức ấm hết rồi, hiện tiền sáu căn hỗ dụng. Từ chỗ hỗ dụng, có thể tiến vào ngôi Bồ-tát Kim cang Can tuệ. Tâm tinh viên minh, ở trong ấy biến hóa, như ngọc lưu ly chứa vầng trăng báu. Cứ thế vượt lên các ngôi vị, vào biển trang nghiêm nhiệm mầu của Như Lai.”

Vậy nên kiêm thuộc Viên giáo.

Nếu dùng năm giáo nhiếp kinh, thì Lăng-nghiêm được ba giáo sau là Chung – Đốn – Viên bao trùm lấy. Còn nếu dùng kinh nhiếp giáo, thì Lăng-nghiêm gồm đủ cả năm giáo, vì không phế bỏ quả vị và giới phẩm của Tiểu thừa, đồng thời giữ lại các nghĩa của Thủy giáo như tám thức, ba không.

Ba không: Ngã không, pháp không và câu không (ngã – pháp cùng không).

Phần y theo tông để phán định giáo pháp đã xong. Kế tiếp là dựa vào luận để biện nghĩa lý.

Căn cứ luận Khởi Tín, từ gốc đến ngọn cũng chia năm tầng để quy thuộc, và cũng đồng với năm giáo. Chỉ khác là năm giáo đi từ cạn đến sâu, còn luận thì từ sâu tới cạn.

Ban đầu, luận lấy “một tâm” làm gốc—nhiếp hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian. Cái tâm ấy chính là “Như Lai Tạng” trong kinh này—bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, làm chỗ nương cho hết thảy pháp mà không bị pháp nào làm ô nhiễm. Pháp pháp duy tâm, thể tánh toàn pháp giới, đây thuộc về Viên giáo.

Kế đó, từ một tâm mở ra hai môn, bao hàm hai giáo:

  • Môn Tâm chân như: Tâm tánh bất sanh bất diệt, lìa danh dứt tướng, rốt ráo bình đẳng, chỉ duy một tâm, tức tâm tức Phật, không có thứ lớp. Đây thuộc về Đốn giáo. Thủy giáo Không tông cũng thầm nói đến môn này.
  • Môn Tâm sanh diệt: Nương nơi Như Lai Tạng mà có tâm sanh diệt. Như Lai Tạng bản lai bất động, vốn không sanh diệt, nhưng tùy duyên vô minh mà động thành sanh diệt. Tuy thành sanh diệt, thể vẫn không sanh diệt. Đây là Tạng tâm duyên khởi, bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, chính thuộc Chung giáo. Thủy giáo Tướng tông cũng thầm chỉ bày môn này.

Trong môn Tâm sanh diệt, phần không sanh diệt hòa hợp với phần sanh diệt, thành A-lại-da thức. Thức này có hai nghĩa giác và bất giác:

  • Giác: Thể tâm lìa niệm, tức pháp thân bình đẳng, gọi là bản giác. Đây thuộc về Thủy giáo Không tông.
  • Bất giác: Do không biết đúng như thật rằng pháp chân như toàn nhất, nên tâm bất giác khởi lên mà có niệm. Tướng bất giác ấy không rời tánh bản giác. Nương nơi bất giác mà sanh ra ba tướng vi tế: nghiệp tướng (tức tự chứng phần), chuyển tướng (tức kiến phần), hiện tướng (tức tướng phần). Gọi là “vô minh bất giác sanh ra ba tế”. Đây thuộc về Thủy giáo Tướng tông.

Nương cái thứ ba là “hiện tướng” (tức tướng cảnh giới), lại sanh ra sáu thứ tướng thô, gọi là “cảnh giới làm duyên, tăng trưởng sáu thô”:

  • Trí tướng, tương tục tướng (hai cái này thuộc thức thứ bảy); chấp thủ tướng, kế danh tự tướng (hai cái này thuộc thức thứ sáu): Đây quy thuộc Tiểu giáo.
  • Khởi nghiệp tướng, nghiệp hệ khổ tướng: Đây quy thuộc cõi người, cõi trời.

Phần này cũng chỉ lược dẫn. Muốn biết rộng, xin tra trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

Nếu dựa vào văn luận để làm rõ độ sâu cạn của Lăng-nghiêm, thì cái căn tánh được hiển bày trong kinh chính là thức tinh nguyên minh, thể của nó thông với tánh Như Lai Tạng. Hơn nữa, những chỗ nói Như Lai Tạng thanh tịnh bản nhiên, trùm khắp pháp giới, tùy tâm chúng sanh, ứng lượng sở tri, theo nghiệp mà hiện,… thì phần lớn chính thuộc môn Tâm sanh diệt, cũng không trái với việc trước đó xếp vào Chung giáo.

Nếu gom vọng về chân, thì như chỗ cái thấy, các duyên, cùng với tướng tưởng, đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không hề có; cái thấy và các duyên vốn là Bồ-đề, thể diệu tịnh minh,… và chỗ diệu tánh viên minh, lìa các danh tướng,… đều chỉ nói tánh, chứ không có tướng. Nên kiêm thuộc môn Tâm chân như, cũng không trái với việc trước đó nói kiêm thuộc Đốn giáo.

Nếu xét đến chỗ mầu nhiệm tột cùng của “một tâm”, như bốn nghĩa giao triệt, bốn tướng vô ngại, ba Như Lai Tạng không ngoài một tâm, thì kiêm thuộc “một tâm làm gốc”, cũng không trái với việc trước đó xếp kiêm thuộc Viên giáo.

Kinh này thực ra cùng chung một đường lối, mạch nghĩa với Hoa Nghiêm và Viên Giác. Vì là một bộ điển tịch thâm sâu vô thượng như vậy, nên mới dùng “đại Phật đỉnh” để biểu thị.

Như vậy nếu lấy luận để nhiếp kinh, thì phần chính thuộc môn Tâm sanh diệt, còn lại kiêm thuộc môn Tâm chân như và “một tâm làm gốc”.

Còn nếu lấy kinh để nhiếp luận:

Chỗ bài kệ: “Thấy nghe như huyễn lóa, ba cõi tựa không hoa”, là kiêm thuộc Thủy giáo, Đại thừa Không tông.

Lại có đoạn: “Tánh giác thêm minh, vọng làm minh giác. Giác không phải sở minh, nhân minh lập sở (nghiệp tướng, tự chứng phần). Sở đã vọng lập, liền sanh vọng năng (chuyển tướng, kiến phần). Trong chỗ không đồng không khác, bỗng thành có khác (hiện tướng, tướng phần).” Đây tương ứng với ba tế, kiêm thuộc Thủy giáo, Đại thừa Tướng tông.

Chỗ A-nan đoạn trừ sáu phẩm phiền não vi tế, và chỗ Ma-đăng-già rõ biết nhiều đời chịu khổ chỉ vì tham ái, nên một lòng huân tu pháp lành vô lậu, là tương ứng với bốn thô đầu. Còn chỗ tình tưởng, bảy cõi thú thì tương ứng với hai thô sau. Nên cũng không bỏ Tiểu thừa và trời người.

Vì thế kinh này gồm đủ mười pháp giới, thâu nhiếp mọi thứ chu toàn trọn vẹn. Đây là chỗ vượt hơn các kinh khác.

Phần dựa vào luận để biện nghĩa lý đã xong. Sau cùng là dung hợp với tông Thiên Thai.

Hiền Thủ có năm giáo, Thiên Thai có bốn giáo, tuy số lượng và tên gọi không giống, nhưng đều cùng một nghĩa, chẳng qua khác ở chỗ tách gộp mà thôi.

Thiên Thai tách Thủy giáo của Hiền Thủ ra thành Thông giáo và Biệt giáo, và gộp Chung – Đốn – Viên thành một Viên giáo. Nếu dung hội nghĩa của chúng lại:

  1. Tiểu giáo: Chỉ nói ngã không, không nói pháp không. Đây tức là Tạng giáo của tông Thiên Thai—những người chấp trước vào cái học ba tạng của Tiểu thừa, chỉ chứng được lý ngã không.
  2. Thủy giáo có hai: Nếu xét theo nghĩa chỉ thuyết các pháp đều không, thì ứng với Thông giáo của Thiên Thai—ngay nơi bản thể đã là không, thân – tâm – thế giới cũng chỉ như hoa đốm, cảnh mộng. Nếu xét theo nghĩa bàn rộng sự sai biệt của các pháp, thì ứng với Biệt giáo của Thiên Thai—ba đế phân minh, đầy đủ mười pháp giới.
  3. Chung giáo: Nói Như Lai Tạng tùy duyên mà thành hết thảy pháp, duyên khởi không có tự tánh, hết thảy đều là chân như. Ứng với nghĩa “song chiếu” trong Viên giáo của Thiên Thai.
  4. Đốn giáo: Không thuyết pháp tướng, chỉ bàn chân tánh, dứt tướng – lặng tâm, hết thảy tịch diệt. Ứng với nghĩa “song già” trong Viên giáo của Thiên Thai.
  5. Viên giáo: Tánh – tướng viên dung, thể tức pháp giới, lìa “tức” lìa “phi”, là “tức” cùng “chẳng phải tức”. Ứng với nghĩa “già – chiếu đồng thời” trong Viên giáo của Thiên Thai.

Ba đế: Mình đoán là ba pháp đế quán của Thiên Thai: Không – Giả – Trung. “Ba đế phân minh” tức là được trình bày thứ lớp phân định rõ ràng, không dung hợp làm một.

Song chiếu: Cùng chiếu hai bên Có – Không. “Chiếu” nghĩa là hiển bày, soi tỏ. Hợp vào ba đế thì vừa thấy Không, vừa thấy Giả, nhờ đó mà vào Trung. Ứng với nghĩa là “tức” cùng “chẳng phải tức” trong Lăng-nghiêm.

Song già: Cùng che hai bên Có – Không. “Già” nghĩa là phủ định, che lấp. Hợp vào ba đế thì chẳng thấy Không, chẳng thấy Giả, nhờ đó mà vào Trung. Ứng với nghĩa lìa “tức” lìa “phi” trong Lăng-nghiêm.

Tuy mỗi tông có hệ thống riêng nhưng nghĩa lý không khác. Không nên chia sông uống nước, chấp giữ cái thành kiến môn hộ. Nếu khư khư cho rằng mình đúng còn người khác sai, thì không những không hiểu tông người ta, mà ngay chính tông mình cũng chưa thông suốt.

“Giáp bốn – Nghĩa lý cạn sâu” hết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *