CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 6

Giáp năm – Thể giáo năng thuyên

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết nghĩa lý kinh này rất sâu, vậy giáo pháp biểu đạt nghĩa lý ấy lấy gì làm thể?

Cặp “năng – sở” phổ biến và đặc thù trong Phật học nên bạn cần biết: năng là chủ thể, còn sở là đối tượng.

“Thuyên” nghĩa là giảng giải, biểu đạt, diễn bày. Ở đây, giáo pháp là chủ thể diễn bày (năng thuyên), còn nghĩa lý là thứ được biểu đạt (sở thuyên).

Trong kinh, bài kệ đáp lại Thế Tôn của ngài Văn-thù có nói:

“Con nay bạch Thế Tôn!
Phật giáng cõi Ta-bà,
Phương này chân giáo thể,
Thanh tịnh tại âm – văn.”

Dựa theo đó thì biết đức Thích-ca dùng âm thanh để làm Phật sự. Vì thế lấy âm thanh làm thể của giáo pháp. Nay y theo sớ giải Khởi Tín Luận của tông Hiền Thủ, lược làm bốn môn để nói rõ hơn về giáo thể:

1. Môn Tùy tướng

Tức là âm thanh, câu từ, ngôn ngữ. Nếu chỉ có âm thanh mà không có ngôn từ thì không thể thành giáo thể. Phải đủ cả âm thanh và ngôn từ—thật và giả, thể và dụng—nương giúp lẫn nhau, không bỏ lệch bên nào, thì mới thành thể của giáo pháp. Như tiếng gió, tiếng nước ở thế gian, tuy có âm thanh nhưng không có ngôn từ, nên không thể diễn bày nghĩa lý, không thành giáo thể.

Xét lúc Phật còn tại thế, thuyết pháp độ sanh, nên âm thanh bao hàm ngôn từ trong ấy. Đó là nhiếp cái giả theo cái thật, để thành giáo thể. Sau khi Như Lai nhập diệt, giáo pháp trên giấy mực chỉ còn câu từ, ngôn ngữ. Đó là lấy cái thể theo cái dụng, để thành giáo thể. Vậy nên nay thông lấy cả âm thanh, ngôn ngữ, văn tự làm thể của giáo pháp.

Thật – giả: Không phải hiểu theo hướng “chân thật” và “giả dối”. Mà một cái đang hiện hành thực sự (tức âm thanh), còn cái kia được giả lập/quy ước từ cái hiện hành, để phân biệt nghĩa (tức ngôn từ, câu chữ).

Thể – dụng: Vì âm thanh là chỗ nương trực tiếp của giáo pháp, nên âm thanh là bản thể. Còn ngôn từ là thứ được phân biệt, triển khai ra để vận chuyển nghĩa lý của giáo pháp, nên ngôn từ là công dụng.

Nhiếp giả theo thật: Vì âm thanh thuyết pháp của Phật đã bao hàm câu từ, ngôn ngữ trong ấy. Nên gom nhiếp cái giả lập theo vào với cái hiện hành, mà lấy âm thanh làm giáo thể.

Lấy thể theo dụng: Giáo pháp trên giấy mực không còn phần thể là âm thanh nữa, chỉ có phần công dụng là câu từ, văn tự. Phần thể ẩn trong phần dụng, nên phải theo phần dụng mà lấy câu từ, văn tự làm giáo thể.

Thông cả hai giai đoạn—lúc Phật còn tại thế và sau khi Phật nhập diệt, lúc giáo pháp được truyền miệng đến khi được viết thành kinh sách—mà lấy cả âm thanh, ngôn từ, văn tự làm giáo thể!

2. Môn Duy thức

“Duy” là ngăn ngoại cảnh, “thức” là biểu nội tâm. Môn này theo ý chỉ “vạn pháp duy thức”, tức hết thảy giáo pháp đều không rời thức. Có hai tầng bậc:

  1. Bản chất giáo: Như Lai soi cơ đã định, biết nên dùng pháp gì để độ, liền từ tịnh thức của mình mà hiện khởi, thuyết pháp vì chúng sanh.
  2. Ảnh tượng giáo: Thức của người nghe nương theo bản chất giáo mà biến hiện ra tướng văn nghĩa, làm chỗ duyên của mình.

Bản chất giáo giống như chữ khắc trên mặt đá, còn ảnh tượng giáo là những bản in từ cái khuôn đá ấy. Cả hai đều không lìa thức, nên lấy “duy thức” làm thể của giáo pháp.

Bản chất giáo: Giáo pháp gốc gác, nguyên bản ban đầu.

Ảnh tượng giáo: Bóng ảnh, hình tượng về giáo pháp được tâm thức người nghe biến hiện, suy diễn ra. Là chỗ mà họ duyên lấy.

Thế nên tuy cùng nghe, cùng học một bản chất giáo, nhưng lợi ích mỗi người đạt được không đồng đều là vậy.

3. Môn Quy tánh

“Tánh” tức chân như. Cái thức tâm ở trên không có tự thể, chỉ duy chân như là thật. Vì hết thảy pháp từ xưa đến nay đều lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, chỉ là một tâm, nên gọi là chân như. Chỗ kinh Tịnh Danh ghi: “Không lìa văn tự mà nói giải thoát”, chính là ý của môn này vậy.

Trong Lăng-nghiêm, sắc ấm trong 5 ấm, nhãn sắc xứ và nhĩ thanh xứ trong 12 xứ, nhãn thức giới và nhĩ thức giới trong 18 giới, mỗi mỗi đều quy về tánh Như Lai Tạng diệu chân như. Nên cả giáo pháp âm thanh và sắc tướng đều lấy “quy tánh” làm thể.

Môn này (và cả môn dưới) ý tứ rất sâu, nếu chưa học Lăng-nghiêm hoặc các kinh luận tương tự thì khó lòng hiểu được. Âm thanh, sắc tướng ở môn thứ nhất, thức tâm ở môn thứ hai, đều không có tự thể. Chỉ duy có tánh Như Lai Tạng chân như là thật.

Tuy nói giáo pháp chân như xưa nay lìa tướng ngôn thuyết, danh tự,… nhưng cũng đừng hiểu là rời văn tự mà riêng có pháp (nên ngài Viên Anh mới dẫn câu trong kinh Tịnh Danh vào). Hai ý tựa hồ trái nhau, nhưng thực ra chính là cái nghĩa lìa “tức” lìa “phi” vậy.

4. Môn Vô ngại

Tức là ba môn trước—tâm – cảnh – lý – sự—viên dung vô ngại, giao triệt hàm nhiếp lẫn nhau mà thành bốn pháp giới vô ngại.

Môn Tùy tướng thuộc cảnh (vì âm thanh, ngôn ngữ, văn tự là thanh trần và sắc trần), môn Duy thức thuộc tâm, hợp lại thì thành tâm – cảnh vô ngại.

Lại nữa, hai môn đầu thuộc sự, môn Quy tánh thuộc lý, hợp lại thì thành lý – sự vô ngại.

Lại nữa, sự với sự trong hai môn đầu, Tùy tướng không ngại Duy thức, Duy thức không ngại Tùy tướng. Một hạt bụi có thể tách ra thành hàng ngàn quyển kinh lớn. Một hạt đã như vậy thì muôn hạt cũng đều như vậy. Đó chính là sự – sự vô ngại.

Bởi vì Tùy tướng hay Duy thức rốt ráo đều quy về tánh (lý – sự vô ngại), nên nếu nhìn sâu thêm nấc nữa thì ngay trên phần sự, Tùy tướng không ngại Duy thức, Duy thức không ngại Tùy tướng. Ấy chính là pháp giới sự – sự vô ngại.

Vì sự sự đã vô ngại—ít không ngại nhiều, lớn không ngại nhỏ—nên ngài Viên Anh cho ví dụ một hạt bụi có thể tách ra thành hàng ngàn bộ kinh lớn. Từ đó mà lấy “vô ngại” làm thể của giáo.

Kinh Lăng-nghiêm có bốn nghĩa giao triệt, bốn tướng vô ngại, ba Tạng viên dung, nên có thể lấy “vô ngại” làm thể giáo.

Tông Thiên Thai nói kinh này lấy Như Lai Tạng làm thể, cũng hợp với ý hai môn sau của Hiền Thủ vậy.

Bài này khó nên mình nói lại mạch ý tổng quát để bạn dễ nắm.

Mở đầu, đã biết cái nghĩa lý sở thuyên của kinh này thâm sâu bậc nhất, vậy còn giáo pháp năng thuyên lấy gì làm thể?

Từ bài kệ của Bồ-tát Văn Thù, bước đầu có thể nói thể giáo là âm thanh. Sau đó dùng bốn môn của tông Hiền Thủ để phân tích sâu hơn.

Về lý, có thể nói thể giáo của kinh nào cũng đủ bốn môn. Nhưng nếu nghĩa lý sở thuyên của kinh đó không đủ sâu thì không có cơ sở để bàn tới. Như kinh Tiểu thừa, chỉ quán các pháp vô ngã, vô thường, chưa hề biết nghĩa “vạn pháp duy thức”, làm sao lấy “duy thức” làm thể giáo được? Còn Thủy giáo Quyền thừa tuy rõ “vạn pháp duy thức”, nhưng chưa biết rằng ngay cả thức cũng không có tự thể, làm sao nói được thể giáo chính là tánh chân như?

Lăng-nghiêm chẳng những quy vạn pháp về tánh Như Lai Tạng, có thể lấy “quy tánh” làm thể giáo, mà sở thuyên còn có cảnh giới viên dung nhất thừa của Hoa Nghiêm, nên cũng có thể lấy luôn “vô ngại” làm thể giáo vậy!

“Giáp năm – Thể giáo năng thuyên” hết.

* Danh sách bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *