CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 7

Giáp sáu – Căn cơ ứng hợp

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết thể giáo năng thuyên, nhưng còn chưa rõ kinh này tiếp nhận nhóm căn cơ nào?

Thánh nhân thiết lập giáo pháp, vốn tùy cơ mà nói, nên “kinh” mới được xưng là khế lý khế cơ. Nay xét căn cơ kinh này, chia làm hai mặt rộng và hẹp.

Xét rộng, tức là bao trùm khắp mọi căn cơ. Ở trước đã phán kinh này thuộc Chung giáo. Chung Thật giáo đối với hết thảy chúng sanh, đều xem như Phật. Trong kinh, Phú-lâu-na thưa: “Con cùng Như Lai, chân tâm diệu tịnh, bảo giác viên minh, viên mãn không hai.” Chúng sanh và Phật đã không phải hai, thế thì hết thảy chúng sanh bản lai là Phật, chỉ vì mê mờ cái thể “không hai” ấy nên phải làm chúng sanh.

Kinh này do A-nan thưa hỏi pháp tu đắc thành Bồ-đề. Hễ ai có tâm thì đều có thể thành Phật. Cho đến những loài nhỏ bé có tánh linh biết cựa quậy, cũng đều có Phật tánh. Vậy có căn cơ nào lại không được kinh này nhiếp thọ, bao trùm lấy đâu?

Xét hẹp, tức cần giản trạch đương cơ (căn cơ đối ứng trực tiếp).

Theo như trên, căn cơ được bao trùm tuy rất rộng, nhưng mức độ thọ nhận lợi ích không thể đồng đều. Người căn sâu dày thì liền được ngộ nhập, người căn mỏng cạn thì có thể tin hiểu. Còn người hoàn toàn không có túc căn, cùng lắm chỉ được kết duyên, gieo chủng tử mà thôi. Luận về lợi ích thì họ thuộc nhân duyên xa, nên cần lọc ra.

Xét rộng thì kinh này không bỏ sót chúng sanh nào, kể cả những chúng sanh không tin theo, hay thậm chí phỉ báng. Như Bồ-tát Thường Bất Khinh vẫn thọ ký cho hạng như thế, dù cho họ đọa địa ngục, rốt cuộc vẫn thành nhân duyên xa của Pháp Hoa.

Nhưng luận về lợi ích gần, vừa nghe liền được lợi ích, thì không thể thu nhận tràn lan. Nên cần phải giản trạch.

Thông thường, “giản trạch” là lọc bỏ những hạng không phải đương cơ, còn đây sẽ chọn ra chính đương cơ vậy.

Kinh này đã thuộc nhà Chung Thật thì tự nhiên sẽ là giáo pháp tán thán Đại thừa, đề cao Viên giáo, dẫn Tiểu vào Đại.

Kinh nói: “Hôm nay Như Lai vì pháp hội này mà tuyên nói tánh chân thắng nghĩa trong thắng nghĩa”. Kệ lại nói: “Đây a-tỳ-đạt-ma, mười phương Bạc-già-phạm, một đường vào Niết-bàn.” Ý đều nhằm tiếp dẫn Tiểu thừa hướng về Đại thừa vậy.

Lại nữa, A-nan là đương cơ, thị hiện ở ngôi Thanh văn hữu học. Phật bảo: “Ông trước đã nhàm chán Thanh văn Duyên giác, các pháp Tiểu thừa, phát tâm siêng cầu Vô thượng Bồ-đề”. Đó đều là minh chứng cho việc hồi tâm Tiểu thừa, hướng đến Đại thừa.

Trước tiên, nêu rõ bốn hạng Tiểu thừa:

  • Thanh văn hồi tâm: Kinh nói: “Các ông nếu muốn xả bỏ Thanh văn, tu Bồ-tát thừa, nhập tri kiến Phật, thì phải xét kĩ: Nhân địa phát tâm với quả địa giác, là đồng hay khác?”
  • Duyên giác: Kinh nói: “Bấy giờ, Thế Tôn thương xót hàng Duyên giác Thanh văn trong hội, đối với tâm Bồ-đề chưa được tự tại”.
  • Thanh văn hữu học: Kinh nói: “Khiến hàng hữu học biết cách nhiếp phục tâm phan duyên, được đà-la-ni, vào tri kiến Phật.”
  • Thanh văn định tánh: Kinh nói: “Khiến hàng Thanh văn định tánh, cùng nhóm A-la-hán hồi hướng thượng thừa chưa chứng nhị không; đều được nhất thừa, tràng địa tịch diệt”.

Hồi tâm: Tức hồi tâm chuyển ý.

Hữu học: Tức việc tu học chưa xong, vẫn còn phải học. Người tu Tiểu thừa chưa chứng A-la-hán đều là hữu học. Còn chứng A-la-hán rồi thì gọi là “vô học”, tức việc làm đã xong, không cần phải học nữa (chỉ xét trong Tiểu thừa). Dựa theo ngữ cảnh ở đây thì hàng vô học được nhiếp vào “định tánh” và “hồi tâm”.

Định tánh: Tức tánh cố định, ngược lại với hồi tâm.

Bốn hạng này đều là đương cơ của kinh Lăng-nghiêm.

Kế tiếp là bốn hạng mang bệnh:

  • Nhận thức làm tâm: Dùng tâm phan duyên làm tự tánh, không biết chân tâm thường trụ mà chỉ dùng vọng tưởng.
  • Cậy học nhiều, lơ là định lực: A-nan bạch Phật: “Từ khi xuất gia đến nay, con cậy được Phật thương yêu, chỉ cầu đa văn, nên chưa chứng được vô vi.”
  • Ỷ tha lực gia bị: A-nan thưa: “Từ khi theo Phật phát tâm xuất gia, con ỷ lại vào oai thần Phật, thường tự nghĩ chẳng cần nhọc công tu tập, Như Lai sẽ ban tam-muội cho mình, nào biết thân tâm vốn không thay thế cho nhau.”
  • Cậy tánh quên tu: Biết chân vốn có, rõ vọng vốn không, nên tự cậy tánh thiên chân, bỏ qua việc tu chứng. Không biết rằng: Chân tuy vốn có, nhưng nếu không có phương tiện hiển bày thì rốt không thể thấy. Vọng tuy vốn không, nhưng nếu không dùng phương tiện phá trừ thì rốt không thể tỉnh.

Người mang các thứ bệnh này, thông thường đều bị xem là không phải đương cơ. Nhưng nay cũng xin xếp họ vào căn cơ được nhiếp thọ. Tại sao vậy? Vì Lăng-nghiêm như thuốc hay đối trị bệnh, chính là nhắm vào bốn thứ bệnh ấy mà chữa. Thế nên kinh này dùng A-nan để phát khởi—thị hiện thân phận Tiểu thừa, có đủ các thứ bệnh ấy, để dẫn phát Như Lai ứng căn cơ mà ban giáo pháp. Nên biết, A-nan là bậc đại quyền thị hiện—vừa khiến phát khởi đại giáo, vừa đứng vào hàng đương cơ. Chính vì chúng sanh mà ngài đứng ra làm đầu mối dẫn khởi vậy!

Vì lối viết súc tích ngày xưa nên trong văn không có câu chuyển ý. Ở phần chọn lọc đương cơ, có thể thấy ngài Viên Anh nêu ra hai nhóm lớn:

  • Bốn hạng Tiểu thừa là nhóm được Như Lai nêu ra trực tiếp trong kinh. Mỗi hạng đều trích văn kinh dẫn chứng, hiển rõ cái ý tiếp dẫn Tiểu thừa hướng lên Đại thừa.
  • Còn bốn hạng mang bệnh thì phải theo ý kinh và vị trí của ngài A-nan mà suy, chứ Phật không gọi tên trực tiếp.

Nếu y vào văn kinh thì còn một nhóm quan trọng nữa là những chúng sanh phát tâm Bồ-đề trong tương lai. Hàng Tiểu thừa mới hồi tâm còn được Phật ân cần tiếp dẫn như thế, huống chi những người không vướng víu Quyền thừa, chỉ y nơi tối thượng thừa mà phát tâm. Hạng như vậy lại càng cực kỳ là đương cơ!

Theo ý kinh mà suy, nếu họ thuộc bốn hạng mang bệnh thì hẳn nhiên là đương cơ, như ngài Viên Anh đã nói ở trên.

Còn nếu là phàm phu phát tâm lớn, lại không mang bệnh:

  • Vốn đã ngộ tánh, sẵn sàng xả bỏ thức tâm
  • Vừa học rộng nghe nhiều, lại siêng tu định lực
  • Một mặt cầu tha lực gia hộ, mặt khác vẫn nỗ lực tự thân thật chứng
  • Biết mình bản lai là Phật, vẫn nương phương tiện từng bước tiến tu

Hạng như thế, gặp Sa-ma-tha vi mật quán chiếu thì được viên giải triệt ngộ, gặp nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm thì được viên tu chứng nhập, như hổ thêm cánh, như diều gặp gió, không gì ngăn nổi vậy.

“Giáp sáu – Căn cơ ứng hợp” hết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *