CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 8

Giáp bảy – Tông thú chung riêng

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết kinh này bao trùm căn cơ rất rộng, vậy còn tông và thú của kinh là gì?

Ngài Hiền Thủ nói: “Tông là thứ được tôn sùng, thú là chỗ tông quy hướng”. Có hai môn chung và riêng. Chung là xét một đời giáo hóa, riêng là xét trong kinh này.

Xét chung một đời giáo hóa của Phật thì không ngoài Quyền và Thật. Nay dùng ý chung để phân định:

  • Quyền thừa đa phần chú trọng tu thành, thường nêu nhân quả, nên nhân là tông, quả là thú.
  • Viên Thật phần nhiều chú trọng tánh đủ, giảng bày ngộ nhập, nên ngộ là tông, nhập là thú.

Kinh Lăng-nghiêm nếu theo ý chung của Viên Thật thì lấy “ngộ rõ tâm địa” làm tông, “chứng nhập quả địa” làm thú. Trong kinh, Như Lai phá thức hiển căn, hiển bày căn tánh không sanh diệt là thể của định Lăng-nghiêm, muốn A-nan ngộ hiểu triệt để tánh này, lấy đó làm nhân địa tâm. Nương cái không sanh diệt ấy làm nhân tu căn bản, từ giải khởi hạnh mà chứng nhập quả địa.

Còn nếu xét riêng kinh này thì cũng có hai ý chung và riêng.

Tổng quát thì kinh này lấy “viên định” làm tông, “cực quả” làm thú:

  • A-nan thưa hỏi Diệu Sa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na. Như Lai chỉ bày ba Như Lai Tạng, tức đại định viên dung, tự tánh sẵn đủ. Há chẳng phải là tông chỉ của cả bộ kinh này ư?
  • A-nan còn hỏi mười phương Như Lai làm thế nào đắc thành Bồ-đề. Thế Tôn chỉ bày một cửa thâm nhập, pháp môn viên tu, trung trung lưu nhập. Cuối cùng nhập vào biển trang nghiêm nhiệm mầu của Như Lai, viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc, tức cực quả cứu cánh của mười phương Phật. Đó chẳng phải là chỗ quy thú của cả bộ kinh này sao?

Nói về các ý riêng mà xác định tông thú, theo Pháp sư Giao Quang, kinh này có sáu cặp:

  1. Phá – hiển
  2. Thiên – toàn
  3. Ngộ – nhập
  4. Thể – dụng
  5. Hạnh – vị
  6. Phần – mãn

Trong từng cặp thì cái đầu là tông, cái sau là thú. Cái thú của cặp trước lại làm tông của cặp sau, cứ thế tiếp tục.

1. Phá – hiển

Lấy “gạn phá thức tâm” làm tông, “hiển phát căn tánh” làm thú.

Trong kinh phá đủ ba điều mê: một là phá vọng thức không nơi chốn, hai là phá vọng thức không phải tâm, ba là phá vọng thức không tự thể. Không những phá trừ cái tâm duyên lự phân biệt, làm mê mờ chân tánh, mà còn đem năm thứ công năng thắng thiện của ý thức ra mà phá hết.

Đến khi A-nan ngộ vọng cầu chân, Phật mới hiển phát căn tánh. Hướng nơi nhãn căn mà mười lần hiển tột cái chân, với hai vọng kiến (biệt nghiệp, đồng phận) thì lược phá phần vọng. Chỗ hiển chân như chỉ khối đá thô mà nói có ngọc. Chỗ phá vọng như phẫu tách khối đá để lấy ngọc ra. Ý muốn khiến người xả thức mà dùng căn vậy.

2. Thiên – toàn

Lấy “thiên chỉ căn tánh” làm tông, “toàn hiển ba Tạng” làm thú.

Đây nối tiếp chỗ hiển phát căn tánh ở trước. Tuy thiên về nhãn căn mà tỏ bày kiến tinh viên diệu, cho đến tánh của sáu căn đều là tánh Như Lai Tạng; nhưng nếu chấp rằng Tạng tánh chỉ riêng có ở nơi hữu tình, thế thì chưa phải viên diệu.

Phải biết tánh này ở nơi hữu tình lẫn vô tình vốn đồng một thể. Nên Phật đi từ gần đến xa, hiển bày trọn vẹn:

  • Bốn khoa và bảy đại là Không Tạng
  • Mười tướng (vô minh, ba tế, sáu thô) và ba thứ sanh tục là Bất không Tạng
  • Bốn nghĩa và ba Tạng là Không bất không Tạng

Ý muốn khiến từ chỗ thiên lệch mà tiến đến chỗ toàn vẹn vậy.

3. Ngộ – nhập

Lấy “viên ngộ nhà đẹp” làm tông, “cầu cửa thâm nhập” làm thú.

Đây cũng nối tiếp chỗ hiển bày Tạng tánh ở trước. A-nan sau khi được đại khai viên giải, tiếp tục thỉnh cầu viên tu. Ví Tạng tánh như ngôi nhà đẹp, phải tìm được cửa mới vào được.

Đại khai viên giải: Khai mở một cách lớn lao về viên giải.

Viên giải: “Viên” (trong viên mãn) nghĩa là hoàn chỉnh, trọn vẹn. “Giải” (trong liễu giải, giảng giải) nghĩa là hiểu thông, nhận rõ được ý. Sự ngộ hiểu tròn đầy ở đây ý chỉ Như Lai mật nhân, ba Như Lai Tạng.

Viên tu: Sự tu hành toàn vẹn, khởi lên từ viên giải. Tức tu chứng liễu nghĩa.

4. Thể – dụng

Lấy “chứng thể viên thông” làm tông, “phát dụng tự tại” làm thú.

Nối tiếp chỗ một cửa thâm nhập ở trước. Giải sáu mối kết mà vượt ba cái không (ngã không, pháp không, câu không), tức chứng được thể viên thông. Được hai thứ thù thắng (trên hợp với từ lực của chư Phật, dưới đồng với sự bi ngưỡng của chúng sanh) rồi phát ba công dụng (32 ứng thân, 14 vô úy, 4 bất tư nghị), tức phát khởi dụng tự tại.

5. Hạnh – vị

Lấy “vận dụng hạnh viên định” làm tông, “trải qua các ngôi vị” làm thú.

Nối tiếp đại dụng viên thông ở trước. Các công dụng ấy đều là hạnh của viên định, tức diệu hạnh vô tác. Có thể làm lợi ích chúng sanh, có thể thành tựu Phật quả. Nương nơi diệu hạnh ấy mà tiến lên, trải qua 55 ngôi vị trên đường Bồ-đề, hướng đến biển diệu trang nghiêm.

6. Phần – mãn

Lấy “các ngôi phần chứng” làm tông, “viên mãn Bồ-đề” làm thú.

Nối tiếp ở trước, phải trải qua các ngôi vị mà chứng từng phần. Đến khi giác – hạnh viên mãn, mới chứng được quả giác đại viên mãn là Vô thượng Bồ-đề.

Tông thú của cả kinh là từ phá mà đến hiển, từ hiển mà đến ngộ, từ ngộ mà đến nhập, từ nhập mà vào sâu, từ sâu rồi đến tột. Thứ lớp bày bố rất rõ ràng.

Lại nói: “Tam-ma-đề như huyễn, búng tay vượt vô học.” Cộng thêm quyển mười nói: “Cứ thế vượt lên Mười tín, Mười trụ, Mười hạnh, Mười hồi hướng, Bốn tâm gia hạnh, Mười địa kim cương hạnh Bồ-tát, Đẳng giác viên minh. Nhập vào biển diệu trang nghiêm của Như Lai, viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc.” Nên cũng cực kỳ viên dung.

Chính chỗ gọi là: Hành bố không ngại viên dung, viên dung không ngại hành bố!

“Giáp bảy – Tông thú chung riêng” hết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *