CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM – KỲ 9

Giáp 8 – Thời điểm thuyết kinh

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Đã biết tông thú của kinh này viên mãn tột bậc, nhưng chưa rõ kinh được thuyết vào thời kỳ nào?

Các nhà chú giải phán định thời thuyết không giống nhau, bên nào cũng có căn cứ. Nay trước hết nói rõ về ba thời theo tông Hiền Thủ, sau đó sẽ thẩm định lại.

1. Mặt trời vừa mọc, chiếu trước chỗ cao

Vì chúng sanh đại căn viên đốn, mà chuyển pháp luân căn bản vô thượng, gọi là trực hiển giáo. Khiến những người thuộc đồng giáo (nhất thừa) chuyển thành biệt giáo.

Như mặt trời vừa mọc, trước tiên chiếu nơi núi cao. Tức pháp hội Hoa Nghiêm, Phạm Võng.

2. Mặt trời lên cao, chuyển chiếu khắp nơi

Vì ba hạng chúng sanh căn cơ thượng – trung – hạ, mà chuyển pháp luân từ gốc khởi ngọn, gọi là phương tiện giáo. Khiến ba hạng người ấy, từ ba thừa chuyển thành nhất thừa.

Như núi và đất có chỗ cao thấp, nên ánh sáng chiếu đến có trước sau. Trong thời này, lại có ba lần chuyển chiếu:

  • Thời sơ chuyển: Vì chúng sanh hạ căn mà chuyển pháp luân Tiểu thừa, gọi là ẩn thật giáo. Khiến hàng phàm phu, ngoại đạo chuyển từ phàm thành Thánh. Như mặt trời lên cao, ban đầu chuyển chiếu đồi núi âm u, tối thấp. Tức pháp hội Đề-vị, A-hàm.
  • Thời trung chuyển: Vì chúng sanh trung căn mà chuyển pháp luân ba thừa, gọi là dẫn nhiếp giáo. Khiến những người trong ba thừa chuyển từ Tiểu thành Đại. Như mặt trời lên cao, chặng giữa chuyển chiếu vùng cao nguyên. Tức pháp hội Phương Đẳng, Thâm Mật.
  • Thời hậu chuyển: Vì chúng sanh thượng căn mà chuyển pháp luân Đại thừa, gọi là dung thông giáo. Khiến những người trong ba thừa chuyển từ Quyền thành Thật. Như mặt trời lên cao, sau cùng chuyển chiếu khắp đại địa. Tức pháp hội Diệu Trí, Bát-nhã.

3. Mặt trời sắp lặn, chiếu lại chỗ cao

Vì chúng sanh căn cơ thượng thượng mà chuyển pháp luân thâu ngọn về gốc, gọi là khai hội giáo. Khiến những người thiên lệch trong năm thừa, chuyển thiên kiến thành viên dung.

Như mặt trời sắp lặn, chiếu trở lại núi cao. Tức pháp hội Pháp Hoa, Niết-bàn.

Ba thời trên cộng lại có năm nhóm pháp hội, so với năm thời của tông Thiên Thai cũng hoàn toàn khớp.

Nay xét kinh này, nghĩa lý và nhân duyên thông hết trước sau, chưa thể chỉ đích xác thuộc thời nào.

Nếu căn cứ vào nghĩa quở trách và bài xích của kinh, thì ứng với thời Phương Đẳng. Kinh nói: “Thanh văn các ông hạn hẹp kém hiểu biết, không thể thông đạt thật tướng thanh tịnh. Nay tôi chỉ dạy, phải khéo suy nghĩ, đừng trễ nải trên đường Bồ-đề.” Lại bảo A-nan rằng: “Ông trước đã nhàm chán Thanh văn Duyên giác, các pháp Tiểu thừa, mà phát tâm siêng cầu Vô thượng Bồ-đề. Nên tôi vì ông mà khai thị đệ nhất nghĩa đế. Sao ông lại đem những thứ hí luận thế gian, vọng tưởng nhân duyên, mà tự trói buộc?” Đây đều là các đoạn quở trách sự thiên lệch, bài xích Tiểu thừa, ý muốn khiến bỏ Tiểu mà vào Đại.

Nếu căn cứ theo tuổi của vua Ba-tư-nặc thì ứng vào thời Bát-nhã. Vua Ba-tư-nặc cùng tuổi với Phật. Trong kinh, vua tự thuật nay đã 62 tuổi. Phật lúc 62 tuổi chính đang trong thời kỳ nói kinh Bát-nhã.

Nếu căn cứ vào việc hàng Tiểu thừa cầu thành Phật đạo, các vị Thánh trình bày bản môn viên thông, Da-du-đà-la đã được thọ ký, cùng các sự tích của Thiện Tinh và Lưu Ly, thì kinh này phải ở sau Pháp Hoa.

Các điều trên đều lấy ngay trong kinh này làm chứng cứ, nên không thể riêng phán một thời nhất định. Nên biết kinh được thuyết không phải chỉ trong một thời, mà rải rác thông cả trước sau, chỉ là người kết tập gom những nội dung cùng loại thành một bộ mà thôi. Hà tất phải gắng gượng phán định, để rồi tăng thêm sự tranh luận? Nếu nhất định muốn phán, thì nên theo phần nghĩa chiếm đa số, tức thuộc thời trung chuyển, pháp hội Phương Đẳng.

Đôi điều ngẫm nghĩ khi học, không có ý khơi mào tranh luận, chỉ để tập phân tích thêm:

Đúng là không phải kinh nào cũng được thuyết một lần xuyên suốt, mà Phật nói rải rác nhiều lần, sau đó hàng đệ tử kết tập lại. Nhưng nếu chỉ dựa vào nghĩa lý chính, thì mình nghiêng về lập luận: Lăng-nghiêm hẳn phải ở giữa Pháp Hoa và Niết-bàn, ứng với thời “Mặt trời sắp lặn” nói ở trên.

Về chi tiết vua Ba-tư-nặc 62 tuổi, nên biết những sự việc ghi chép từ xa xưa đều khó khảo chứng lịch sử, không thể dựa vào đó mà kết luận. Như phương Tây có Iliad và Odyssey, được gán tác giả là Homer, nhưng Homer rốt cuộc là ai? Rồi phương Đông cũng gán Kinh Dịch cho Văn Vương, Đạo Đức Kinh cho Lão Tử,… Ngay ở Việt Nam cũng lưu truyền có 18 đời vua Hùng. Vì sao là con số 18, niên đại thế nào?

Nên với Phật pháp cũng thế. Từ những bản văn Phạn, Pali,… không đầy đủ và lẫn lộn, được truyền miệng và chép tay qua các thế hệ, mà cố muốn khảo chứng sự thật lịch sử thì không thể được. Nên khi gặp vài chi tiết không khớp thì phải tự biết bỏ qua.

Còn phần nội dung chính của văn kinh, nương theo oai linh của các bậc Thánh, cộng thêm công đức lưu truyền gìn giữ của người xưa, nên mới đến được tay chúng ta như ngày nay. Nghĩa lý nếu đã rõ ràng thì cứ y theo đó mà xét, đâu cần chấp nhặt vài chi tiết lịch sử không khớp.

Về chuyện quở trách, dẫn dắt Tiểu thừa, tinh thần chủ đạo giống thời Phương Đẳng, thì trước tiên phải hiểu bối cảnh thời ấy: Sau thời A-hàm, hàng nhị thừa chứng quả vô học, thoát luân hồi sanh tử, bèn tự cho là đã được Niết-bàn rốt ráo. Nên thời Phương Đẳng chính để phá bỏ cái chấp ấy. Tinh thần khi đó là bài xích Tiểu thừa, tán thán Đại thừa. Ý muốn đánh thức hàng nhị thừa, khiến họ hổ thẹn mà hồi tâm chuyển ý.

Lăng-nghiêm giống với tinh thần ấy, nhưng hàng nhị thừa được chỉ bày phương tiện dẫn thẳng vào Thật giáo nhất thừa, không phải qua Thủy giáo Quyền thừa nữa. Như ngay những đoạn được trích dẫn, Phật chính đang giảng nói về “thật tướng” cùng “đệ nhất nghĩa đế”.

Thời Phương Đẳng không phải là không có Thật giáo. Như kinh Thắng Man đã nói về Như Lai Tạng. Còn trong kinh Duy-ma-cật, sau khi nghe về pháp môn không thể nghĩ bàn của các Bồ-tát, ngài Ca-diếp than rằng: Đối trước pháp Đại thừa, hàng Thanh văn như hạt giống đã hỏng (bại chủng).

Nhưng điểm mấu chốt là trước Pháp Hoa, chưa từng có chuyện “khai quyền – hiển thật” (khai mở tam thừa chỉ là phương tiện, hiển bày rốt ráo chỉ có một Phật thừa), chưa trực tiếp cho phép nhị thừa tu thành Phật. Nên hàng Thanh văn chưa từng công khai thỉnh cầu pháp tu thành Phật, và Phật cũng chưa lần nào chỉ bày nghĩa ấy cho đại chúng.

Phẩm hai trong Pháp Hoa có đoạn: Hàng Thanh văn vô học đã sạch lậu; cùng các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ phát tâm cầu Thanh văn – Duyên giác; đều nghĩ: Hôm nay vì sao Phật nói pháp của Phật rất cao sâu khó hiểu, hàng Thanh văn – Duyên giác đều không thể đến được? Phật trước nay nói nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng nghĩa ấy mà được Niết-bàn rồi?

Nếu Lăng-nghiêm ở trước Pháp Hoa, thì hàng đại đệ tử đã được nghe về Như Lai mật nhân, không thể có thái độ thắc mắc như thế nữa. Trong Pháp Hoa, ngài Xá-lợi-phất còn nói: “Phật chỉ giáo hóa Bồ-tát, không vì chúng con nói pháp chân yếu này. Chúng con mất phần tri kiến vô lượng của Như Lai, rất tự thương xót”, và “từ khi theo Phật, con chưa từng được nghe nói như thế”.

Trong Lăng-nghiêm, từ đầu ngài A-nan đã thỉnh cầu đại định để thành Phật, còn những điều Phật và Bồ-tát Quán Thế Âm diễn nói đều là pháp tu chân yếu. Trước Pháp Hoa không thể có sự hỏi đáp như thế!

Còn về việc vì sao cái ý tiếp dẫn Tiểu thừa lên Đại thừa (vốn giống thời Phương Đẳng) liên tục lặp lại trong Lăng-nghiêm, thì dựa vào Pháp Hoa cũng có thể suy.

Pháp Hoa tuy phế bỏ Quyền giáo cùng ba thừa, gom tất cả về nhất thừa, nhưng chỉ là lời tuyên bố, mới được cái tên gọi mà thôi. Chính vì Phật dạy Quyền giáo suốt 40 năm, nay bỗng tuyên bố thay đổi hẳn, khiến lòng chúng hoảng hốt, nghi vấn trùng trùng. Nên vừa tuyên bố xong, Phật lại phải ra sức an ủi, khuyên bảo để an định tâm trí cho họ, chưa rảnh để trừ bỏ mê lầm, cũng như truyền trao pháp tu tâm yếu.

Thế nên đến Lăng-nghiêm, A-nan vẫn nhận thức làm tâm, dính mắc vào lý duyên khởi, còn Phú-lâu-na nghi vạn pháp sanh tục, năm đại lấn diệt. Đấy đều là chủng tập Tiểu thừa đã in sâu, nay Phật mới có cơ hội để phá trừ sạch hết, từng bước khiến ngộ thật tướng, dẫn vào Phật đạo. Chính là lý do vì sao cái ý quở trách và bài xích Tiểu thừa được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Lăng-nghiêm vậy!

“Giáp tám – Thời điểm thuyết kinh” hết.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *