CHUADUOCSU.ORG
GIỚI THIỆU DỰ ÁN CÙNG HỌC LĂNG NGHIÊM

Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Phạn ngữ Thủ-lăng-nghiêm nghĩa là hết thảy sự rốt ráo kiên cố.
Hết thảy sự, tức không riêng gì tự tâm, mà bao quát tất cả vạn vật, núi sông, thế giới,… Rốt ráo kiên cố, tức xưa nay thường trụ bất động, chẳng phải do công phu tu tạo mà thành.
Người học Phật phần nhiều cho rằng đạo Phật chủ trương vạn pháp vô thường, vạn vật do duyên khởi, nay nghe hết thảy sự rốt ráo kiên cố, hẳn không khỏi nghi ngờ. Nên biết, lý vô thường hay duyên khởi đúng là thuộc Phật pháp, và không có gì sai, nhưng chỉ là phương tiện tạm đặt ra một thời, không phải nghĩa rốt ráo.
Khi xưa trong hội Hoa Nghiêm, Phật nói thẳng “duyên khởi tức tánh khởi” mà hàng nhị thừa Thanh Văn – Duyên Giác còn mờ mịt không hiểu, huống chi phàm phu. Do chúng sanh ở trong mê từ lịch kiếp, không thể ngộ hiểu chân tâm bản tánh, chỉ một mực nhận cái ý thức là tâm. Phật đành tùy cơ, không đổi cái sai của họ, từ Thật giáo mà bày ra Quyền giáo, lấy cái sai dùng tạm. Nên trong Nhân – Thiên – Tiểu thừa đều lập ý thức là tâm, nương theo công dụng của ý thức mà dẫn dắt từ thấp đến cao:
- Chuyển từ ác sang thiện: Tránh cái họa ở địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh. Hưởng phước cõi người và cõi trời Dục giới.
- Lìa dục, tu thiền, chuyển từ động sang tĩnh: Rời bỏ Dục giới, hưởng phước thù thắng ở những cõi trời cao hơn.
- Hàng phục tham sân si, chuyển từ “chấp có” sang “vô ngã”: Chứng tiểu quả, ra khỏi tam giới.
- Chuyển từ “ưa Tiểu thừa” sang “hướng Đại thừa”: Rời quả tiểu Thánh, trở thành Quyền giáo Bồ-tát.
Quyền giáo Bồ-tát tuy biết đến A-lại-da thức, nhưng vẫn lấy cái ý thức sanh diệt làm nhân tu, nên rốt ráo không chứng được quả chân thật.
Chúng sanh vì nhận ý thức là tâm nên thấy có các pháp ở ngoài tâm. Phật đành lập ra lý nhân duyên để đối trị lại thuyết tự nhiên của ngoại đạo.
Còn về lý vô thường, trước thời Pháp Hoa, Phật phần nhiều chỉ dạy là vì chúng sanh ở trong chân tâm thường trụ nhưng không hề hay biết, lại thấy các pháp luân phiên dời đổi: thân có già bệnh, tâm có sanh diệt, thế giới thành hoại,… Phật thương xót chúng sanh chịu vô lượng khổ nhưng không thể nhất thời trừ cái điên đảo này, bèn dạy rằng: Trong ba cõi hết thảy đều vô thường, vô ngã, khổ và không. Còn ngoài ba cõi riêng có Niết-bàn, đây là con đường tu tập…
Phải biết rằng, đó chỉ là thuốc đặc trị một thời, giúp chúng sanh nhanh ra khỏi nhà lửa nguy hiểm mà thôi!
Vậy mà hàng căn cơ nhỏ một mực khởi tâm chán bỏ, chỉ mong mau chóng ra khỏi tam giới. Tuy chứng được Niết-bàn an ổn, nhưng rồi thuốc trở thành bệnh, họ mãi chấp tam giới là thật có, chán ghét nó như lao ngục, không muốn trở lại độ sanh. Rốt cuộc không nhận được sự thật: hết thảy sự rốt ráo kiên cố, trạm nhiên thường trụ.
Nên nói “vạn vật do duyên khởi, sanh diệt vô thường” không phải liễu nghĩa, cũng không phải chủ trương của đạo Phật là vậy.
Còn người học Đại thừa, nếu lại nói rằng “chúng ta ai nấy đều có Phật tánh chân thường, còn các pháp sanh diệt vô thường”, thì vẫn không phải liễu nghĩa.
Ví tâm như một tấm gương lớn, còn hết thảy vạn vật luân chuyển sanh diệt như bóng hiện trong gương. Mới nhìn qua sẽ nghĩ: “Gương bất động, còn bóng chuyển động”. Đó là cái thấy chân – vọng mỗi bên một thể.
Cần phải xét kĩ: Bóng ảnh không có tự thể, hết thảy chỉ là gương. Thể của gương y nhiên bất động thì sao bóng ảnh lại riêng có động tĩnh được?
Chân tâm và vạn pháp cũng thế, vốn không có hai thể, hết thảy đều là tâm. Tâm đã thường trụ bất động thì sao vạn pháp lại vô thường sanh diệt!
Nghĩa này vô cùng sâu xa, khó tin hiểu. Nên nếu không có Lăng-nghiêm, ít ai thấu đạt được rằng: “Thân mình, thân người, cùng vạn vật núi sông, thế giới,… hết thảy đều như mộng huyễn tạm hiện. Cũng không phải nhân duyên hay tự nhiên, mà ngay nơi tự thể là chân thường, không hoại diệt.” Đó cũng chính là cái nghĩa hết thảy sự rốt ráo kiên cố vậy.
—
Ở trên là lý, nay lại nói về tu.
Từ xưa, pháp môn tu tuy nhiều vô số, nhưng cũng đều vì cầu định. Mà định thì chung quy chỉ có hai loại: định của thức tâm, định của căn tánh.
Định của thức tâm là những người chưa ngộ tánh, chỉ biết cái ý thức là tâm mình, nương theo đó tu tập. Cái tâm ý thức ấy hằng ngày khởi niệm triền miên không dứt, nên công phu tu là chế ngự, cưỡng bức cho nó nằm yên, không nghĩ lung tung nữa. Phàm phu, ngoại đạo, Tiểu thừa, Quyền giáo đều ở trong cái định này.
Nhưng cái định này hư dối không thật, chỉ là lấy cái tĩnh áp chế cái động. Ở trong tĩnh thì thành, đến khi động liền hoại. Vì bản chất của ý thức là hư vọng sanh diệt, dùng thiền định để cưỡng bức thì tạm yên ổn thôi, làm sao thường trụ được. Nên Phật nói, dùng tâm sanh diệt làm nhân tu để cầu quả chứng bất sanh diệt thì cũng như người nấu cát muốn thành cơm vậy.
Còn định của căn tánh, gần thì sẵn đủ trong căn, xa thì hàm chứa muôn pháp, tức như trên nói hết thảy sự rốt ráo kiên cố. Đã không phải do tu tập mà thành thì cũng chẳng cần áp chế mà định. Công phu tu chỉ một mực soi chiếu tự tánh sẵn có, đến khi các thứ hư vọng tự tiêu sạch vậy.
Người ngộ chân tâm, nương vào tự tánh vốn định mà tu hành thì hiệu quả một ngày tương đương cả kiếp so với khi không ngộ. Mà chỉ bày chân tâm, tỏ thông tánh định, chỉ duy có kinh Lăng-nghiêm thôi!
Vậy nên vì muốn người học Phật ngộ hiểu được liễu nghĩa rốt ráo, diện mạo chân thật của đạo Phật, và không bị lầm lạc trên đường tu, mình mới nguyện chuyên hoằng dương, truyền bá bộ kinh này, cũng là lý do Góc nhỏ Lăng-nghiêm ra đời vậy.
Nhân duyên của mình
Thuở nhỏ, theo duyên gia đình nên mình hay đến chùa Dược Sư của Sư bà Hải Triều Âm. Tuy thường được tiếp xúc Phật pháp nhưng không có tâm cầu học, chỉ biết niệm Phật theo người lớn.
Năm Sư bà mất, mình khi ấy 19 tuổi, mới bắt đầu đọc sách tâm linh của phương Tây. Mình vẫn nhớ khi lên chùa dịp lễ tang, ở trong phòng đọc quyển “Thức tỉnh mục đích sống”.
Sau đó đọc dần đến sách của Làng Mai. Càng đọc càng thấy Phật pháp quá hay, muốn học sâu thêm, nên quyết định tìm học kinh Phật. Song lại gặp rào cản ngôn ngữ khi kinh sách nhà Phật có nhiều từ ngữ đặc thù, đọc vào không hiểu. Thầy mình là Ni sư Vĩnh Lạc, gợi ý học từ kinh Tứ Niệm Xứ, chỗ nào không hiểu thầy sẽ chỉ cho. Thế là có đợt lên chùa, mình vừa đọc vừa hỏi thầy những chỗ không hiểu, chập chững học về ngũ uẩn, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo,… Sau đợt ấy, mình tiếp tục tự học và thực hành theo kinh Tứ Niệm Xứ. Quãng đường gần một cây số từ trạm xe buýt vào lớp ở Đại học là nơi mình vừa đi vừa chăm chú vào từng bước chân.
Năm mình 20 tuổi, thầy gửi cho một thùng sách, trong đó có kinh Kim Cang. Một tối nọ, đọc đến câu “Phàm những gì có hình tướng đều hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai”, mình chợt bừng tỏ ngộ.
Giai đoạn đó ham mê đọc về Thiền tông, rồi tự thực hành theo. Khi các vọng niệm lắng xuống, mình nhận ra có cái biết sáng rực ở sáu căn, không mượn tư duy hay suy nghĩ. Thế là ngộ được tâm tánh, từ đó hừng hực khí thế tu hành.
Tuổi trẻ hiếu thắng, chưa nhận thức được rằng các bậc thiền sư ngày xưa toàn căn cơ lớn, chỉ nghe một vài câu là ngộ tâm, rồi thẳng tiến tu hành đến lúc liễu đạt sanh tử. Mình không được như vậy, chưa kể việc tu, ngay cả việc học cũng còn nhiều thiếu sót mà không tự biết. Nên qua một thời gian, việc tu học bị lui sụt là tất yếu.
Nhưng may mắn vì có duyên với chùa Dược Sư. Sư bà Hải Triều Âm rất xem trọng kinh Lăng-nghiêm, nên chùa Dược Sư vẫn tiếp tục kế thừa đường lối ấy. Do có chút khả năng chữ nghĩa, mình được tham gia vào quá trình thực hiện bộ sách “Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng nghĩa”, nội dung là sự kết tập lại lời giảng của Sư bà về kinh, chuyển văn nói thành văn viết.
Lần đầu mọi thứ còn thô sơ và khó khăn, khả năng mình hạn chế nên không đóng góp được gì nhiều. Dù được đọc qua hết và thấy kinh Lăng-nghiêm hay, mình khi ấy vẫn như người đứng ngoài chiêm ngưỡng, chưa hề nắm được ý chỉ sâu xa bên trong.
Bước ngoặt đến vào năm mình 25 tuổi, khi chùa chuẩn bị tái bản lần đầu. Mình được biết đến sớ giải kinh Lăng-nghiêm của Pháp sư Viên Anh. Dù chưa biết Hán văn, nhưng tìm được bản mềm. Công nghệ khi ấy cho phép mình tra từ điển rất nhanh, nên dù phải bập bõm từng chữ, mình dần tiếp xúc với những tầng nghĩa sâu hơn của Lăng-nghiêm.
Thời gian đó vừa phải học chữ Hán, học kinh, làm sách phụ chùa, vừa phải lo sự nghiệp, kiếm tiền chăm lo gia đình nhỏ, nên mình rất áp lực. Mình đã đối trước Phật xin gia hộ không phải bận rộn kiếm tiền nữa, để có thể chuyên tâm tu học và truyền bá kinh Lăng-nghiêm. Sáu năm trôi qua, ước nguyện thành hiện thực. Tuy không giàu có dư dả nhưng cuộc sống đủ đầy và bình an, để có thể tĩnh tâm viết những bài thế này.
Còn về bộ sách của chùa Dược Sư, đầu năm 2026 lại được tái bản. Qua hai lần tái bản, độ hoàn thiện đã vượt trội hơn xưa rất nhiều. Có thể nói toàn bộ lời giảng của Sư bà Hải Triều Âm về Lăng-nghiêm đều đã được cô đọng vào ấy. Với mình thì đó là tài liệu tốt nhất cho người học Lăng-nghiêm ở Việt Nam hiện tại.
Đôi điều về dự án này
Ngoài những bài giảng của Sư bà Hải Triều Âm thì có hai tài liệu về Lăng-nghiêm mà mình cảm thấy vô cùng may mắn khi gặp được là:
- “Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Kinh Giảng nghĩa” của Pháp sư Viên Anh
- “Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Kinh Chính Mạch sớ” của Pháp sư Giao Quang
Kinh Lăng-nghiêm truyền đến Trung Quốc vào thời nhà Đường. Trải qua 1000 năm, số người học và hâm mộ kinh nhiều vô kể. Nhưng diệu chỉ của kinh vẫn chưa được làm sáng tỏ, khi các tác phẩm sớ giải thời ấy lộn xộn và sai lạc nhiều. Mãi đến thời nhà Minh, cuối thế kỷ 16, xuất hiện Pháp sư Giao Quang chỉ rõ đúng sai, khiến ý chỉ mạch lạc xuyên suốt của kinh được sáng tỏ, lấy tên sớ giải là “Chính Mạch”. Ngài để lại cho hậu thế đúng một tác phẩm quan trọng này. Còn lại thì thông tin tiểu sử, thậm chí năm sinh năm mất của ngài, ngày nay đều không rõ.
Mình biết giá trị của “Chính Mạch” nhưng chưa đủ khả năng học. Vì văn viết thời đó cực kỳ súc tích, không có dấu ngắt câu, nội dung lại là những tầng nghĩa sâu của Lăng-nghiêm. Mình có thử qua vài trang, đôi khi chỉ một vế bốn chữ mà ý tứ sâu xa, phải một câu dài trong tiếng Việt mới diễn đạt được hết. Mình đọc một trang mà cảm giác căng não như đọc cả chương sách.
Nhưng may là có sớ giải của ngài Viên Anh. Tác phẩm ra đời vào giữa thế kỷ 20, lúc này văn viết Trung Quốc đã sử dụng dấu câu. Tuy vẫn viết theo lối văn ngôn (cổ văn) nhưng lượng chữ đã nhiều lên, ý văn rõ ràng hơn so với các thời trước. Hơn nữa, nội dung quyển này quá nửa là kế thừa từ Chính Mạch. Nên với mình, đây giống như cầu nối giữa công trình của ngài Giao Quang với thời hiện đại vậy.
Ngoài ra, ngài Viên Anh còn chắt lọc thêm cái hay từ những nhà sớ giải khác, cộng thêm phát kiến của chính ngài, khiến tác phẩm cực kỳ tường tận và sáng tỏ cho hàng hậu học.
Pháp sư Viên Anh phát nguyện viết sớ giải năm 24 tuổi, ròng rã đến 74 tuổi mới hoàn thành, và 75 tuổi thì ngài mất. Thế mới thấy giá trị của sớ giải và công lao của ngài, thật không sao nói hết!
Tiếp nối ngọn đuốc của các bậc đi trước, nay mình bắt đầu dự án này, mong muốn làm một cầu nối thuận lợi cho bạn đến với tác phẩm “Đại Phật Đỉnh Thủ-lăng-nghiêm Kinh Giảng nghĩa” của pháp sư Viên Anh. Mình sẽ vừa dịch, vừa diễn giải, vừa chú thích hết tất cả các thuật ngữ, coi như loại bỏ hoàn toàn rào cản ngôn ngữ cho bạn. Phần việc còn lại—đọc kĩ, suy ngẫm, quán chiếu, thực hành—thì bạn phải nỗ lực tự làm lấy, không ai thay thế được.
Kinh này dài và không dễ học. Nhưng bạn nên biết, bản thân chúng ta phải cầu học đạo, chứ không có chuyện đạo tự đến với mình. Người có tâm cầu học thì sớm muộn cũng vượt qua được chỗ khó. Còn như không có tâm thì đổ lỗi cho kinh khó để rồi bỏ học mà thôi.
—
Về hình thức, nội dung từng bài sẽ định dạng thế này:
[Định dạng bình thường: Mình dịch/diễn giải lại nội dung của tác phẩm. Đôi lúc chú thích thêm bằng ngoặc đơn.]
[Định dạng quote in nghiêng: Những suy nghĩ, ghi chú, giải thích thêm của mình cho nội dung chính mà không thể đơn giản mở ngoặc đơn ở trên, thể hiện sự “cùng học” của dự án.]
Làm tới đâu, mình đăng bài tới đó. Trong vòng một đến hai tuần sẽ đăng một bài. Dự kiến kéo dài khoảng hai năm rưỡi đến ba năm.
Mong được đồng hành cùng bạn! Hẹn gặp bạn ở bài kế tiếp!

Phật tử Hoằng Trạng xin được nhận tài liệu Pháp bảo để cùng trau dồi Phật học. Thành kính niệm ơn Sư bà cùng Chư Tôn đức Ni CDS. Namo A DI ĐÀ Phật
Nam Mô A Di Đà Phật