KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA – PHẨM PHỔ MÔN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT – KỲ 1

GIẢI THÍCH TIÊU ĐỀ – TÊN KINH

Bài viết của Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa

Phẩm Phổ Môn là một phần của kinh Diệu Pháp Liên Hoa (gọi tắt là Pháp Hoa). Nên trước khi học phẩm, chúng ta cần nắm qua ý chính của toàn kinh, nằm ở ngay tiêu đề.

Trong phẩm thứ ba của kinh, đích thân Phật Thích-ca Như Lai nói đây là kinh Đại thừa, tên “Diệu Pháp Liên Hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm”. Về sau, người kết tập lấy bốn chữ Diệu Pháp Liên Hoa làm tiêu đề.

Diệu nghĩa là vi diệu. Dùng một chữ này để ca ngợi, tôn vinh Pháp vi diệu không thể nghĩ bàn. Trong kinh, khi ngài Xá-lợi-phất thỉnh cầu Phật giảng bày pháp ấy, Phật đáp: Thôi thôi, chẳng nên nói, pháp của ta vi diệu khó nghĩ lắm. Tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác đều chẳng thể biết được. Nếu nói ra, hàng trời người sẽ nghi ngờ và kinh sợ, còn hàng Tỳ-kheo tăng thượng mạn (tự phụ) sẽ không tin kính.

Pháp này là gì mà được Phật tôn xưng như thế? Chính là pháp Thật tướng tối thượng nhất thừa. Chư Phật ngộ pháp này mà thành đạo, còn chúng sanh mê pháp này nên chịu luân hồi.

Thật tướng tối thượng nhất thừa, nghe cao xa thế nhưng lại chính là tự tâm của chúng sanh, ai ai cũng sẵn đủ. Vì thế khi chứng cùng cực được tâm này, Phật thốt lên: “Lạ lắm thay, lạ lắm thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí tuệ đức tướng của Như Lai. Nhưng vì vọng tưởng điên đảo chấp chước nên chẳng chứng được.” Còn chúng sanh tuy mê tâm này nhưng chưa phút giây nào rời nó. Mắt đang thấy, tai đang nghe, mũi đang ngửi, lưỡi đang nếm, cho đến ăn cơm, uống nước, mặc áo, đi lại… tất cả đều là công dụng của Diệu Pháp!

Pháp tâm này bao hàm tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, là toàn thể của pháp giới. Ở bậc Thánh không tăng, ở phàm phu không giảm. Ở nơi nhiễm mà chẳng nhơ, ra khỏi trần mà chẳng sạch. Hết thảy Thánh phàm, nhiễm tịnh, nhân quả, không gì chẳng hàm nhiếp dung thông.

Như trong tâm khởi niệm cực ác, tạo nghiệp cực ác, thì biến hiện ra cảnh địa ngục. Tạo nghiệp ác vừa thì chịu quả báo làm quỷ, nghiệp ác nhỏ thì chịu thân súc sanh. Còn làm thiện thì được sanh làm người, cho đến cực thiện thì hưởng phước ở cõi trời. Vậy nên nói, chúng sanh do mê pháp này, theo thiện ác xoay vần mà phải chịu luân hồi.

Còn như trong tâm biết khởi trí tu tập (thủy giác), phản mê quy ngộ, y vào pháp Tứ đế, chán khổ đoạn tập, tu đạo chứng diệt, thì được quả La-hán. Y vào pháp Mười hai nhân duyên, quán sát thuận nghịch, khế ngộ vô sanh, thì được quả Duyên Giác. Y vào pháp Lục độ, song tu phước tuệ, tự lợi lợi tha, thì được quả Bồ-tát. Y vào pháp Thật tướng, lìa trần hợp giác, chiếu tánh về nguồn, hoặc tận trí viên, thì cứu cánh sẽ chứng quả Phật. Vậy nên nói, chư Phật ngộ pháp này mà thành đạo.

Tất cả pháp giới không ngoài tâm này. Tâm là bản thể của các pháp, các pháp là công dụng của tâm. Công dụng ô nhiễm thì làm phàm phu, công dụng thanh tịnh thì làm bậc Thánh. Tuy tùy duyên biến hiện theo công dụng, nhưng bản thể vẫn bất biến từ xưa nay.

Nên trong tâm diệu pháp có sẵn đủ Phật pháp và chúng sanh pháp. Phật pháp và chúng sanh pháp không rời tâm pháp. Nêu một tức là ba, nói ba cũng là một. Như nêu một tâm pháp, thì trên bao hàm bốn cõi Thánh (Phật pháp), dưới thâu nhiếp sáu cõi phàm (chúng sanh pháp). Nêu một Phật pháp, thì chư Phật thành đạo chính từ tâm chúng sanh. Nêu chúng sanh pháp, thì ai ai cũng có tâm, đã có tâm thì đồng thể với Phật. Tâm, Phật và chúng sanh là ba thứ không sai khác. Pháp không sai khác ấy chính là Diệu Pháp!

Khi mới thành đạo, Phật đã tuyên thuyết nghĩa này qua kinh Hoa Nghiêm, hiển bày pháp giới viên dung vô ngại. Nhưng chỉ có bậc đại căn đủ khả năng nhận hiểu, còn hàng căn cơ nhỏ trong pháp hội thì như người mù kẻ điếc. Sự giáo hóa lúc ấy như cánh cửa hẹp, chỉ bậc đại căn có thể bước vào, chưa trọn bản hoài của Phật. Vì thế trải qua bảy ngày trăn trở, quan sát thấy cây cối cao thấp trong lúc kinh hành, Phật mới đem pháp Nhất thừa này, phương tiện phân biệt chia làm ba, khởi đầu chuyển pháp luân với Tứ Diệu Đế ở vườn nai.

Các vị Thanh Văn tuy chứng quả A-la-hán, thoát luân hồi, nhưng đối với pháp Nhất thừa vẫn hoàn toàn mờ mịt không có phần. Phật phải tốn thêm 40 năm, khéo dùng các phương tiện uốn nắn, dẫn dắt, bài xích, quở trách,… để đến pháp hội Pháp Hoa, lòng chúng mới thuần tịnh, căn cơ chín muồi, tin nhận được tâm Phật sẵn đủ nơi mình, rằng mình có thể thành Phật. Thế là lần lượt được thọ ký, trọn vẹn bản hoài ra đời của Phật Thích-ca.

Có thể nói, kinh Hoa Nghiêm khai mở cái ý ấy, còn kinh Pháp Hoa đóng lại trọn vẹn cái ý ấy vậy.

Trong phẩm thứ hai, Phật nói rõ chư Phật Như Lai chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, chính là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Chỉ lấy một việc này làm bản hoài, làm chí nguyện, ngoài ra không còn việc gì khác. Ai tu pháp Nhất thừa, quyết chí cầu đạo Vô thượng (tức là hàng Bồ-tát) mới thật là đệ tử chân chính, làm đúng theo bản hoài của Phật. Nên cũng trong phẩm hai, Phật nói: “Xá-lợi-phất! Nếu đệ tử của ta tự cho mình là A-la-hán hoặc Duyên Giác mà không hay biết việc các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ-tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, cũng chẳng phải A-la-hán hay Duyên Giác.”

Hiểu được ý này thì đã hiểu vì sao Diệu Pháp là pháp dạy cho Bồ-tát, là chỗ hộ niệm của chư Phật. Chính là tám chữ “giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm” trong tên kinh.

Còn về hai chữ “Liên Hoa” (hoa sen), đó là ẩn dụ ví cho Diệu Pháp. Bởi vì Diệu Pháp sâu xa khó hiểu, nên cần mượn một hình ảnh thân quen để giảng bày, lấy cái dễ để giúp hiểu cái khó.

Vậy vì sao Diệu Pháp lại ví như hoa sen?

Trong kinh có nhiều nghĩa lý sâu xa, mình chọn ra ba nghĩa dễ hiểu nhất để giải thích:

Thứ nhất, sen là loài thực vật hiếm hoi có hoa và quả cùng lúc. Khi hoa sen vừa nở, gương sen (chứa hạt sen) đã lộ rõ ở giữa. Trong khi các loài khác, trước phải đơm hoa rồi mới kết trái. Ví như các pháp thế gian, phải nỗ lực tu tạo mới có kết quả. Còn Diệu Pháp thì ai ai cũng sẵn đủ, nhân quả đồng thời, tu chứng không hai, không phải do tu mà có, như trên nói ở bậc Thánh không tăng, ở phàm phu không giảm.

Thứ hai, sen ở trong bùn lầy hôi tanh mà vẫn đẹp thanh khiết. Ví như tâm tánh chúng sanh dù có đầy rẫy điều ô uế bất tịnh, tạo nghiệp ác trôi lăn trong địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh,… thì tánh giác vẫn hằng thanh tịnh, không bị các pháp làm ô nhiễm.

Thứ ba, cành sen dù còn ở trong bùn, trong nước hay đã vươn khỏi mặt nước, cuối cùng đều nở hoa tinh khiết. Ở trong bùn ví như đọa ác đạo. Ở trong nước dụ cho cõi trời, cõi người. Vượt trên mặt nước dụ cho Thanh Văn, Duyên Giác đã thoát luân hồi. Nở hoa đẹp đẽ dụ cho Bồ-tát tu hạnh tự giác giác tha. Đến khi cánh hoa tàn, gương sen lộ ra đầy đặn thì công đức viên mãn, chứng quả Phật cứu cánh vô thượng.

Như vậy, toàn bộ tên kinh “Diệu Pháp Liên Hoa, giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm” đã giải thích xong. Nếu bạn hiểu được nội dung vừa rồi, thì đối với kinh Pháp Hoa coi như đã nắm được ý chính. Còn nếu chưa hiểu cũng không sao, kinh Pháp Hoa là một kinh khó, không phải chỉ học một buổi hay đọc một bài mà hiểu ngay được. Việc chưa hiểu kinh Pháp Hoa không cản trở bạn học hiểu và hành trì phẩm Phổ Môn, vì nội dung phẩm khá độc lập so với ý chính của kinh.

Về chữ “kinh”, mình đã giải thích sơ lược trong bài về kinh Địa Tạng. Ở đây chúng ta cùng học chi tiết hơn một nấc.

Phạn ngữ Sutra, Trung dịch là khế kinhKhế nghĩa là khế hợp, như trong tiếng Việt có từ khế ước/hợp đồng. Kinh Phật, trên thì hợp với chân lý của chư Phật (khế lý), dưới thì hợp với căn cơ của chúng sanh (khế cơ). Như kinh này, về khế lý thì nói Thật tướng tối thượng nhất thừa, bản hoài của chư Phật,… Rồi Phật Thích-ca đợi đến khi căn cơ đệ tử chín muồi, mới gom ba thừa quy về một mối, ấy là khế cơ.

Ngoài khế lý, khế cơ, kinh Phật còn đủ bốn nghĩa: quán, nhiếp, thường, pháp.

  • Quán (trong từ quán xuyến): Như sợi chỉ xâu chuỗi, xuyên hết qua những nghĩa cần biết.
  • Nhiếp: Như sợi dọc (kinh) giữ sợi ngang (vĩ), thu nhiếp và gìn giữ những chúng sanh đáng độ (tức đương cơ/căn cơ đối ứng của kinh).
  • Thường: Qua bao đời, quá khứ – hiện tại – vị lai, nghĩa lý vẫn không thay đổi.
  • Pháp: Là chỗ cả mười pháp giới cùng tuân theo.

Ngoài ra, chữ “kinh” còn có nghĩa đường lối, tức là con đường tu thành Phật. Chư Phật y vào kinh mà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ-tát y theo kinh mà tới Như Lai địa. Còn chúng sanh nương theo kinh mà vào đạo Phật.

* MỤC LỤC

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *