CHUADUOCSU.ORG
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA – PHẨM PHỔ MÔN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT – KỲ 2

GIẢI THÍCH TIÊU ĐỀ – TÊN PHẨM
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
Kinh Pháp Hoa có 28 phẩm, Phổ Môn là phẩm thứ 25.
Đây là phẩm nổi tiếng nhất trong kinh Pháp Hoa, thường được tách riêng khỏi kinh để tiện trì tụng. Đến nỗi nhiều nơi còn gọi hẳn là kinh Phổ Môn.
Vì sao phẩm này nổi tiếng đến thế? Theo mình, có ba lý do:
- Nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tụng đọc.
- Bồ-tát Quán Thế Âm có nhân duyên sâu dày với cõi Ta-bà.
- Những phẩm khác chứa nhiều nghĩa lý sâu xa, hiểu được đã khó, muốn có lợi ích lại cần tu tập thời gian lâu. Trong khi phẩm Phổ Môn vừa dễ thực hành—chỉ cần niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát—mà sự ứng nghiệm lại đến nhanh. Ngay cả người không hiểu nghĩa, chỉ cần đủ lòng tin nhất tâm xưng danh thì đều được lợi ích. Người được ứng nghiệm lại kể cho những người khác. Uy danh của Bồ-tát Quán Âm cứ thế ngày càng lan rộng trong cõi chúng ta.
Về tên phẩm, Phổ Môn là gọi tắt, tên đầy đủ có hai phần là “Bồ-tát Quán Thế Âm – Phổ Môn”. Cùng học nghĩa từng cụm:
Bồ-tát
Phiên âm tiếng Phạn, đầy đủ là Bồ-đề-tát-đỏa (Bodhisattva). Bồ-đề nghĩa là giác, tát-đỏa nghĩa là hữu tình (có tình thức). Trung Quốc ngày xưa ưa thích giản lược nên chỉ gọi Bồ-tát. Người có đạo tâm lớn, nguyện hạnh sâu rộng, mới được xưng danh hiệu này.
Ba chữ “giác hữu tình” có thể giải thích theo ba nghĩa:
- Về mặt tự lợi, Bồ-tát đang tu hành hướng đến quả vị Phật, nên vẫn còn phần tình thức chưa sạch hết. Tức là tuy giác nhưng chưa hoàn toàn, vẫn hữu tình.
- Về mặt lợi tha, Bồ-tát không ngại biển khổ, tùy cơ cứu độ, hiện thân thuyết pháp, giác tỉnh vô lượng chúng sanh. Tức là giác tỉnh cho những hữu tình khác.
- Xét cả hai mặt, Bồ-tát tự lợi lợi tha, trên cầu Phật giác, dưới độ hữu tình.
Bồ-tát có hai loại là quyền giáo và thật giáo.
Nếu từ nơi sự thức mà phát tâm cầu đạo, tu sự lục độ, chưa biết quán lý, thì gọi là Bồ-tát quyền giáo. Nếu từ nơi căn bản thức mà phát tâm cầu đạo, tu lý lục độ, tất cả các hạnh đều xứng tánh khởi tu, thì gọi là Bồ-tát thật giáo.
Giải thích thêm cho bạn nào chưa quen với những khái niệm ở trên:
Y vào sự thức mà phát tâm: Nương theo cái thức phân biệt sự tướng (ý thức) mà phát tâm cầu đạo. Ví dụ: Thấy người tu sống bình an, đem lại hạnh phúc cho mọi người, nên trong tâm phân biệt ưa thích, khởi nghĩ muốn xuất gia cầu đạo.
Lục độ: Sáu pháp tu tập của Bồ-tát—bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
Tu sự lục độ là tu trên phần sự việc, ở trong vòng hữu vi, thấy có mình đang tu, có chúng sanh được độ, chưa ngộ lý thật tướng của các pháp vốn không.
Quán lý: Công phu khởi trí tuệ (thủy giác) quán chiếu lý tánh (bản giác).
Bồ-tát quyền giáo: Bồ-tát tu pháp phương tiện, biết tu trên sự việc nhưng chưa ngộ lý.
Y vào căn bản thức phát tâm: Căn bản thức là cái thức chân thật. Nương nơi tự tánh mà phát tâm tu, không phải do phân biệt cảnh ngoài.
Trong tâm liên tục khởi trí quán chiếu tự tánh, thấu rõ thật tướng của các pháp. Từ cơ sở đó mà phát khởi hành động ra ngoài, tu lý lục độ, như bố thí mà không thấy có người thí, vật thí,… Thế gọi là xứng tánh khởi tu.
Bồ-tát thật giáo: Bồ-tát tu hành xứng với chân lý thật tướng.
Bồ-tát Quán Thế Âm chính là Bồ-tát thật giáo, chỉ y vào lý tối thượng thừa mà phát Bồ-đề tâm!
Quán Thế Âm
Theo kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni, vị Bồ-tát này có sức uy thần không thể nghĩ bàn, ở trong vô lượng kiếp quá khứ đã làm Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Nhưng vì nguyện lực đại bi, muốn khiến chúng sanh được an lạc mà hiện làm Bồ-tát (giáng tích), quay bánh lái thuyền-từ vào biển khổ, tùy duyên ứng cảm, không nơi nào bỏ sót.
Kinh Địa Tạng, Phật nói với Bồ-tát Quán Âm: Ông có nhân duyên rất lớn với chúng sanh trong cõi Ta-bà. Những chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, nếu kẻ nào nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, hay mến tưởng đến ông cùng khen ngợi ông, thời những chúng sanh ấy đều ở nơi đạo Vô thượng Chánh giác, quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời hưởng đủ sự vui vi diệu, khi nhân quả sắp thành thục liền được Phật thọ ký cho.
Kinh Lăng-nghiêm, Bồ-tát Quán Âm tự trình bày viên thông: Do con cúng dường Quán Âm Như Lai, được Phật ấy truyền thụ pháp Như huyễn văn huân văn tu, Kim cương tam-muội, thành tựu ba mươi hai ứng thân, bốn thứ không thể nghĩ bàn. Phật Quán Âm khen con khéo thành tựu được pháp môn viên thông, ở trong đại hội, thọ ký cho con hiệu là Quán Thế Âm.
Kinh Bi Hoa:
Trong quá khứ, tại thế giới San-đề-lam, kiếp Thiện Trì, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng, có vị Chuyển luân Thánh vương tên là Vô Lượng Thanh Tịnh. Thái tử của vua ấy trong suốt ba tháng cúng dường đức Như Lai Bảo Tạng cùng trai tăng.
Có vị Phạm-chí Bảo Hải khuyên thái tử rằng, với công đức bố thí cúng dường như vậy, chẳng nên cầu làm vua trời Đao-lợi hay vua trời Đại Phạm. Vì hết thảy những gì có được từ phước báu đều vô thường, khác nào cơn gió thoảng qua nhanh. Thay vào đó, hãy dùng công đức ấy khiến cho tâm được tự tại, mau chóng thành tựu quả Bồ-đề.
Thế là thái tử hướng về Phật, phát tâm Bồ-đề rằng: Hết thảy căn lành của con đều xin hồi hướng về quả vị Phật. Nguyện khi con hành đạo Bồ-tát, chúng sanh nào đang chịu khổ não nơi ba đường ác, nếu có thể nhớ nghĩ đến con, xưng danh hiệu của con, sẽ được con dùng thiên nhĩ mà nghe, thiên nhãn mà thấy. Nếu không hết khổ, con trọn chẳng bao giờ thành tựu đạo Bồ-đề.
Phật Bảo Tạng thọ ký: Thiện nam tử! Ông quán xét hết thảy chúng sanh mà sanh tâm đại bi, muốn dứt trừ mọi khổ não cho chúng sanh, muốn cho chúng trụ nơi an lạc. Nay ta đặt tên cho ông là Quán Thế Âm. Trong lúc ông tu hành đạo Bồ-tát, có trăm ngàn vô lượng ức na-do-tha chúng sanh được lìa thoát mọi khổ não.
—
Về ba chữ “Quán Thế Âm”: Quán là trí quán, không phải nhãn quan (vì thế đọc Quan Thế Âm là sai). Bồ-tát sáu căn phong bế, nên đối trước cảnh, tất cả đều là trí chiếu hiện tiền. Thế Âm (âm thanh thế gian) là cảnh được quán. Như vậy, trong tên của Bồ-tát có đủ hai phần, trí năng quán và cảnh sở quán.
Tên của Bồ-tát Quán Âm, cũng như các vị Bồ-tát khác, dựa vào hai mặt tự lợi lợi tha mà lập nên.
Như phẩm Phổ Môn này dựa vào mặt lợi tha: “Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh chịu các khổ não, nhất tâm xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, Bồ-tát tức thời quán soi âm thanh của chúng, khiến được giải thoát.” Cái năng quán là trí chiếu của Bồ-tát, cảnh sở quán là âm thanh của chúng sanh khổ não. Chúng sanh nhất tâm xưng danh, Bồ-tát tức thời theo âm thanh ấy cứu khổ, vì thế có tên Quán Thế Âm.
Còn kinh Lăng-nghiêm thì nói theo mặt tự lợi: “Hằng hà sa kiếp xưa, con phát tâm Bồ-đề nơi Phật Quán Thế Âm. Phật ấy dạy con từ văn – tư – tu, nhập Tam-ma-địa.” Tức là từ nơi tánh nghe, tư duy tu tập, nhập vào chánh định. Tư duy ở đây không phải thứ tư duy của ý thức. Mà Bồ-tát ở nơi tánh nghe, khởi trí quán chiếu, soi ngược lại tánh nghe (phản văn), không chạy theo phân biệt âm thanh bên ngoài. Cái năng quán cũng là trí chiếu giống như mặt lợi tha ở trên, nhưng cảnh sở quán là cái tánh hay nghe hết thảy âm thanh thế gian và xuất thế gian. Phản văn đến chỗ cùng cực, nhập Tam-ma-địa, chứng viên thông, nên được thọ ký danh hiệu Quán Thế Âm.
Phổ Môn
Theo nghĩa đen, phổ nghĩa là rộng, còn môn là cửa. Khi tìm hiểu ý nghĩa hai chữ này, mình đọc được khá nhiều cách diễn giải khác nhau. Nhưng một điều mình đúc kết được trong quá trình học Lăng-nghiêm là, giải nghĩa tiêu đề phải sát nghĩa với văn kinh. Như hai chữ Phổ Môn, không những cần giải nghĩa nó là gì, mà còn phải xác định phần nào trong văn kinh nói về nghĩa đó. Chứ không thể tùy ý diễn giải mà không tương khớp với nội dung kinh.
Khi đọc nội dung, bạn sẽ thấy toàn phẩm có hai phiên vấn đáp. Lần đầu hỏi về nguyên do có tên Quán Thế Âm, lần hai hỏi về phương tiện du hóa (du hành các nơi để giáo hóa) của Bồ-tát, lần lượt ứng với “Bồ-tát Quán Thế Âm” và “Phổ Môn” trong tên phẩm.
Như vậy phần hỏi đáp phương tiện du hóa chính là luận nghĩa về hai chữ “Phổ Môn”. Phổ mang nghĩa chu biến (cùng khắp), Môn mang nghĩa thông đạt. Bồ-tát hành hóa khắp pháp giới, không nơi nào không tới là Phổ; tùy cơ ứng hiện, tự tại vô ngại là Môn.
Phổ Môn là pháp thị hiện của Bồ-tát, không phải ẩn dụ. Nên nghĩa đen “cửa rộng” không hợp, vì không phải dùng hình ảnh “cửa rộng” để chỉ thứ khác.
Đây là nghĩa mình ưng ý nhất. Khi học đến phần vấn đáp thứ hai về phương tiện du hóa, gồm 32 ứng thân và bốn thứ không nghĩ bàn, bạn sẽ hình dung rõ hơn.
Toàn bộ tên phẩm “Bồ-tát Quán Thế Âm – Phổ Môn” đã giải thích xong.
