CHUADUOCSU.ORG
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA – PHẨM PHỔ MÔN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT – KỲ 3

HỎI ĐÁP NGUYÊN DO DANH HIỆU
Bài viết của cư sĩ Hoàng Thái Hòa – Pháp danh An Hòa
A. Văn xuôi
Xem mục lục, bạn có thể thấy toàn phẩm có ba phần lớn:
- Văn xuôi: Gồm hai phiên vấn đáp. Lần đầu luận về danh hiệu Quán Thế Âm, lần hai luận về pháp Phổ Môn thị hiện.
- Văn kệ: Tụng lại nghĩa đã nói ở phần văn xuôi.
- Lợi ích: Công đức và lợi ích khi nghe phẩm.
Nắm được khung tổng quát rồi, chúng ta cùng đi vào nội dung chi tiết, bắt đầu bằng lần hỏi đáp đầu tiên:
I. Hỏi đáp nguyên do danh hiệu
1. Đương cơ thưa hỏi
Lúc bấy giờ, Bồ-tát Vô Tận Ý từ chỗ ngồi đứng dậy, bày hở vai phải, chắp tay hướng Phật, bạch rằng: “Thưa Thế Tôn! Bồ-tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì tên Quán Thế Âm?”
Bồ-tát Vô Tận Ý là đương cơ (căn cơ đối ứng) khởi thỉnh phẩm Phổ Môn.
Ngài tên Vô Tận Ý vì có bi nguyện tận cùng vị lai, độ thoát chúng sanh, quyết không xả bỏ. Thế giới, chúng sanh, nghiệp quả vốn vô tận, nên ý nguyện độ sanh của ngài cũng vô tận.
Người xưa có bài tán rằng:
Thế giới vô biên bụi rối ren,
Chúng sanh vô số nghiệp mênh mang,
Sông ái không đáy sóng cuộn trào.
Vì vậy ta tên Vô Tận Ý.
Bồ-tát Vô Tận Ý làm đương cơ cũng biểu hiện hạnh nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm, mỗi mỗi cũng đều vô tận.
Tiếp theo là nghi lễ thỉnh pháp.
Bày hở vai phải: Tức là vén áo để lộ da thịt bên vai phải. Văn hóa nước ta, vén áo lộ da trước bề trên là hành vi xấc xược, nhưng ở Ấn Độ lại biểu ý tôn kính. Vai bên phải dùng để lao dịch, nên cử chỉ vén áo vai phải thể hiện nghi thức sẵn sàng hầu hạ bậc thầy.
Chắp tay: Cũng là hành vi tôn kính người trên, biểu thị sự chuyên chú nhất tâm, không phân tán.
Hai hành vi vừa rồi thuộc về thân nghiệp. “Hướng Phật” thuộc về ý nghiệp, “bạch Thế Tôn” thuộc khẩu nghiệp. Ba nghiệp cung kính như thế là nghi lễ thỉnh pháp của người đệ tử.
Danh hiệu Quán Thế Âm vang lừng mười phương, được khắp các bậc Hiền Thánh nể trọng. Uy danh như thế chẳng thể tự phô trương, tất phải có nguyên do sâu xa. Nên ngài Vô Tận Ý hỏi Phật, Bồ-tát Quán Âm vì sao được danh hiệu ấy.
Đương cơ thưa hỏi đã xong. Bắt đầu từ dưới là câu trả lời của Phật, gồm hai phần: Chính đáp gỡ nghi và Hiển rộng thần lực.
2. Chính đáp gỡ nghi
a) Tổng quan quán âm cứu khổ
Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh chịu các thứ khổ não, nghe danh Bồ-tát Quán Thế Âm, nhất tâm xưng niệm; Bồ-tát tức thời quán soi âm thanh của chúng, khiến được giải thoát.
Khổ não bao hàm cả thân và tâm, thân đau bệnh thì thống khổ, tâm gặp việc bất như ý thì não loạn. Một nỗi khổ đã đáng sợ, huống chi phải chịu đủ các thứ khổ não!
Vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh: Tỏ bày năng lực quán sâu – ứng khắp của Bồ-tát, chẳng giới hạn số lượng hay nơi chốn nào.
Chúng sanh vô biên, căn cơ và cảnh khổ thảy đều sai biệt. Hoặc một người có nỗi khổ riêng, hoặc nhiều người cùng chịu một nỗi khổ. Hoặc một người chịu cùng lúc nhiều nỗi khổ, cho đến nhiều người chịu nhiều nỗi khổ khác nhau. Biệt nghiệp thì riêng chịu, cộng nghiệp thì cùng chịu, mỗi mỗi sự khổ não đều do nghiệp cảm tự chiêu vời. Vậy nên biết, khổ não hiện tại đều vì ác nghiệp từ quá khứ mà ra.
Nhưng do cũng từng gieo trồng thiện căn, nên đời nay được nghe uy danh Quán Thế Âm Bồ-tát. Nếu đủ lòng tin, nhất tâm niệm danh hiệu, liền được giải thoát khỏi khổ não.
Trong 14 công đức vô úy, đây là Khổ não vô úy (không sợ khổ não). Do lúc gặp khổ não, nhất tâm xưng danh được giải thoát, nên không sợ hãi nữa.
Kinh Lăng-nghiêm, Bồ-tát tự thuật: Do con không theo âm thanh, chỉ quán tánh nghe, nên có thể khiến chúng sanh khổ não khắp mười phương, được con quán soi âm thanh, liền được giải thoát.
Không theo âm thanh, chỉ quán tánh nghe: Bồ-tát tu pháp phản văn, không chạy theo âm thanh bên ngoài, một mực khởi trí quán chiếu tánh nghe.
Do công phu tự lợi, lìa trần chiếu tánh nên ngài chứng đắc viên thông, quay trở lại gia bị chúng sanh. Chúng sanh nào nhất tâm xưng danh, chí thành khẩn thiết thì tâm cơ tương giao với lực gia bị từ Bồ-tát, khiến liền được giải thoát.
Hỏi: Một mình Bồ-tát, làm sao ứng khắp được các căn cơ? Một câu danh hiệu, làm sao đối trị được muôn thứ khổ?
Như trăng tròn trên cao, bóng hiện muôn dòng nước. Bồ-tát tu pháp nhĩ căn viên thông, chứng đắc diệu dụng không thể nghĩ bàn. Ngài luôn hiện diện trong tâm chúng sanh, một mực gia bị cứu khổ. Chỉ cần chúng sanh quay về, nhất tâm xưng danh, liền được khế hợp. Trong thoáng chốc đó, nhờ nương tha lực nên thân tâm mình tạm được như Bồ-tát. Thế nên chỉ từ một câu danh hiệu mà không khổ não nào không giải, không tai nạn nào không thoát. Chẳng phải như hàng thần linh, quỷ thần chỉ có chút ít thần thông mà người đời thường mong cầu và mường tượng.
Muốn được ứng nghiệm, cốt phải nhất tâm. Nếu là tâm tán loạn, khinh nhẹ hay xem thường thì dù xưng danh cũng khó hiệu nghiệm. Chẳng phải vì Bồ-tát phiền giận không cứu, mà vì diệu lực của Bồ-tát không tác ý, ai khế hợp được thì tự cảm ứng. Như mặt nước muốn hiện bóng trăng thì phải tự tĩnh lặng trước. Chứ nếu phải tác ý thì đang giúp người này, sẽ không thể đồng thời đáp ứng người kia vậy.
Ni sư Tịnh Tuệ, chùa Dược Sư (Đức Trọng – Lâm Đồng) kể lại chuyện của mẹ:
Do lánh nạn chiến tranh, buộc phải rời làng xóm theo đoàn tản cư, bố mẹ hoang mang lo sợ lắm! Trước đó lòng tin Tam Bảo rất hời hợt, gặp hoàn cảnh này, mẹ mới chịu bám víu vào đức Quán Thế Âm. Bố vừa qua cơn sốt rét, người còn rất yếu, cũng cố gắng niệm Nam-mô theo. Dọc đường phải dừng nghỉ nhiều lần, nên dần dần tuột lại phía sau, bị đoàn tản cư bỏ rơi.
Đến một khu rừng rậm, bố mẹ ngồi nghỉ ở một gốc cây lớn. Bỗng nhiên từ bên kia đường, một cặp thỏ trắng mon men tiến tới, đứng nhìn mình đăm đăm. Bố mẹ đứng dậy toan bắt thì chúng quay lưng chạy, nhưng lại chạy chậm như đang đợi mình. Vui chân đuổi theo, bố mẹ sang hẳn bên kia đường, đến một lùm cây rậm rạp. Ngay lúc ấy, có tiếng xe nhà binh ầm ĩ vọng tới, súng nổ vang rền. Hoảng sợ, bố mẹ vội luồn vào bụi rậm theo đôi thỏ. Xe càng đến gần, tiếng súng xả vào rừng cây bên kia càng rõ. Đợi xe đi thật xa, bố mẹ lóp ngóp chui ra. Nhìn lại chỗ ngồi ban nãy ở gốc cây, thấy đất bị đạn xới lên tơi bời!
Lần khác, mẹ bị mọc một cái nhọt độc lớn ở ngón tay cái, tấy đỏ sưng vù, đau thấu óc. Thế là tối hôm ấy bị sốt nặng. Mẹ nằm cắn răng niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát. Đến khi mệt quá, vừa chợp mắt bỗng thấy đức Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen, tay cầm thanh kim sáng loáng. Mẹ nghe rõ tiếng nói dịu dàng ấm áp: “Giơ tay đau lên đi con”. Mẹ vội vàng giơ cánh tay lên khỏi đầu. Đức Quán Thế Âm mỉm cười, phóng vút cái kim vào ngón tay đau. Mẹ sợ hãi nhắm mắt vì nghĩ một cơn đau sẽ ập đến. Nhưng không, một cảm giác mát mẻ khoan khoái thấm toàn thân. Mẹ giật mình tỉnh giấc, chẳng thấy Bồ-tát đâu, nhưng kỳ diệu là tay tuyệt không còn nhức nhối, thấy khỏe khoắn khác thường. Mẹ vội tháo băng ra xem. Máu mủ ướt đẫm vải buộc mà tay mình nhẹ tênh. Lớp da xẹp xuống, ít ngày sau khô đi, bong ra, hình thành da non. Tay trở lại bình thường, không để lại dù một vết sẹo.
Từ đó, mẹ hết lòng tin ngôi Tam Bảo, siêng làm Phật sự, khuyên mọi người niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Cứ thế cho đến cuối đời, mẹ ra đi nhẹ nhàng êm ả.
