CHUADUOCSU.ORG
MỪNG XUÂN DI LẶC

TIỀN THÂN ĐỨC DI LẶC
Chuyện Cổ Phật Giáo kể rằng:
Ngày xửa ngày xưa, có ông Tiên tên là Nhất Thiết Trí Quang Minh tu ở trong rừng. Gặp năm mưa gió trái thời, cây cỏ héo khô không khai hoa kết quả, dân gian mất mùa, khắp nơi đói kém. Một con thỏ thấy Tiên ông nhịn đói, thương quá, bèn ra trước mặt ngài để hiến thân cho ngài. Nhưng Tiên ông chỉ vuốt ve thỏ mà không nghĩ gì đến chuyện hại thỏ. Thỏ nghĩ: “Tối nay Tiên ông đốt lửa sưởi, ta sẽ nhảy vào tự quay nướng thơm ngon, chắc Tiên ông sẽ dùng”.
Sương chiều lạnh buốt, ngọn lửa hồng vừa cháy đỏ thì thỏ con nhảy phốc vào, ý mừng rằng: “Đằng nào cũng chết, nay lại được chết để cúng dường một vị đại đức”.
Ngọn lửa xèo xèo reo vui, thui nướng thân hình Bồ-tát. Riêng Tiên ông không vui tí nào. Cảm động ngậm ngùi trước sự hy sinh của con vật, ngài phát nguyện: “Đời đời dù chết, quyết không nỡ lòng ăn thịt chúng sanh”.
Từ đấy ngài có tên là Di Lặc (Từ Thị), luôn luôn mẫn từ thương xót muôn loài. Thỏ là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật.
HÓA THÂN ĐỨC DI LẶC
Cách đây hơn ngàn năm, ở bên Tàu bỗng nhiên xuất hiện một vị Hòa-thượng béo tròn, bụng phệ, miệng cười tươi như hoa, tay xách túi vải. Nên được tên là Bố Đại Hòa-thượng (Bố Đại là túi vải). Có ai thỉnh pháp, ngài buông tay nải xuống, chắp tay đứng im. Nếu gạn hỏi: “Chỉ có thế thôi à?” thì ngài vác đãy vải lên vai đi thẳng. Một ngày kia, Bố Đại Hòa-thượng ngồi trên mỏm đá, cười mà hóa sau khi đọc kệ:
Di Lặc! Thật Di Lặc!
Hóa thân nghìn trăm ức,
Luôn luôn nhắc người đời,
Mà người đời chẳng biết.
Ngài giáng sanh, độ thế chỉ một nụ cười. Vậy mà cái cười ấy được truyền bá khắp tầng lớp trong nhân gian nhiều hơn các thứ kinh luận khác.
Người Tàu ham ưa nền triết lý tươi vui của nụ cười nên khắp nơi nơi, thường thấy bóng hình Bố Đại Hòa-thượng hoặc khắc, hoặc vẽ, hoặc nặn, hoặc chạm trổ. Lại sợ những ai không tinh ý, không hiểu được ý nghĩa sâu xa của nụ cười, người ta nặn thêm hình 6 chú bé bò bám quanh ông bụng phệ, đặt tên là lục tặc (6 tên giặc). Vì các chú ngây thơ dại dột lắm, tinh nghịch dối trá khiến cha mẹ thất điên bát đảo.
Chú thứ nhất tên nhãn thức (cái biết của mắt).
Chú thứ hai tên nhĩ thức (cái biết của tai).
Chú thứ ba tên tỵ thức (cái biết của mũi).
Chú thứ tư tên thiệt thức (cái biết của lưỡi).
Chú thứ năm tên thân thức (cái biết của thân).
Chú thứ sáu tên ý thức (cái biết của ý).
Chú thứ 6 bé nhất, suốt ngày ở trong nhà tối. Chú không tiếp xúc với đời nhưng 5 chú kia luôn luôn thọt mách lẻo khiến chú cứ mừng vui, hờn giận, ham thích, uất ức… đủ các thứ tâm sở phiền não kết thành màn vô minh. Chú đâm ra mù quáng. Tuy mù nhưng lanh lẹ lắm. Tội nghiệp cho cái thân, cái lưỡi, chúng nó thật là những đầy tớ trung thành, chú bảo sao nghe vậy. Chú sai chúng đủ thứ: sát, đạo, dâm, vọng v.v… Hết 365 ngày đi, lại 365 ngày khác tới, 6 anh em nhà này cứ loạn xạ, cho đến bao giờ cái nhà mấy chú ở sụp đổ tiêu tan.
Câu chuyện có thế, thật là trẻ con. Chỉ là những tấn tuồng hết vui lại buồn, hết buồn lại vui của một đàn trẻ. Bậc thức giả đâu có bị lừa mà chẳng ngồi cười.
Khốn nỗi chúng ta ai cũng tin 6 chú bé của ta thông minh, sáng suốt nhất đời. Tin đến nỗi có 6 chú ấy thì ta sống, không có thì ta chết. Ít người tự hỏi: Vậy ta là ai?
Nhân loại mỗi người nuôi 6 chú giặc làm con, hèn chi mà quả địa cầu này chẳng ướp mùi khói đạn máu xương, hèn chi mà thần hạnh phúc chẳng lánh xa cõi Ta Bà.
Bồ-tát Di Lặc cười vì ngài đã thắng trận giặc rất khó khăn, xưa nay không mấy ai thắng nổi. Ngài đã nắm được chủ quyền. Ngài đã điều phục được giặc, chuyển bọn giặc thành những bầy tôi trung nghĩa hiền lương. Nhà ngài ở vốn Thường Tịch Quang, không hề vẩn đục chút phiền não.
Bởi thế, ngài còn có tên là A Dật Đa. Tàu dịch là Vô Năng Thắng, vô địch tướng quân. Ngài đã toàn thắng vô minh. Bồ-tát ngồi cười vì đã thấy rõ thế gian ân ân oán oán, duyên nợ báo đền chỉ là trò huyễn hóa, do 6 chú “lục tặc” xóa xóa bầy bầy. Chúng ta có đại phước duyên được thờ đức Di Lặc làm Thầy, được học pháp môn Duy Thức nên trong chùa, kẻ trên người dưới vui hòa, cùng nhau đầm ấm sửa soạn đón xuân.
